1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------- Bản án số: 20/2024/KDTM-ST Ngày: 26/4/2024 V/v: “Tranh chấp HĐTD” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc ------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Đệ.
- Bà Trần Thị Đông.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 78/2023/TLST-KDTM ngày 01/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐST-KDTM ngày 26/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-KDTM ngày 12/4/2024. Giữa:
- Nguyên đơn:
Ngân hàng N.
(Sau đây gọi tắt là Ngân hàng A)
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Xuân L – Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh Đ. (Theo Quyết định uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2655/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022).
Người đại diện uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Kim Anh C – Giám đốc phòng G1, thuộc Ngân hàng N – Chi nhánh Đ. (Theo Giấy ủy quyền số 233/UQ-NHNo.ĐA-TH ngày 06/3/2024).
Ông C có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Bà T xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981.
2
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N1, tỉnh Bắc Giang.
3.2. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 2004.
3.3. Cháu Nguyễn Văn C1, sinh năm 2007.
Cùng địa chỉ: Khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Văn C1 là bà Lê Thị T.
Bà T xin vắng mặt tại phiên tòa.
Ông T1, cháu G vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngày 23/11/2018 Ngân hàng A Chi nhánh Đ – Phòng G1 và bà Lê Thị T ký Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806471/HĐTD với một số nội dung chính như sau:
- Hạn mức cấp tín dụng: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
- Thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng.
- Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ nhu cầu sản xuất đồ gỗ.
- Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất cố định.
- Thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ: Theo phụ lục của Hợp đồng tín dụng.
- Mức lãi suất cho vay: 9%/năm tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng.
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn.
- Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.
Thực hiện theo đúng thoả thuận của Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806471/HĐTD, ngày 23/11/2018 Ngân hàng A Chi nhánh Đ – Phòng G1 đã giải ngân cho bà Lê Thị T số tiền 500.000.000 đồng.
Hiện tổng dư nợ gốc và lãi của bà T tính đến hết ngày 21/3/2024 cụ thể là:
- Nợ gốc: 462.800.000 đồng.
- Nợ lãi: 259.186.061 đồng. Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 259.108.272 đồng, lãi chậm trả lãi: 77.790 đồng.
- Tổng cả gốc và lãi là: 721.986.061 đồng.
Tài sản thế chấp bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ cụ thể như sau: Ngày 06/11/2014 bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn T1 đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng A Chi nhánh Đ – Phòng G1 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bà T theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 2745/2014/HĐTC ký ngày 06/11/2014 tại Văn phòng C2. Theo đó tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, diện tích 150m2 tại địa chỉ khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 929810 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2012 mang tên ông Nguyễn Văn T1.
Ngày 10/11/2014 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ chứng nhận việc thế chấp nêu trên đã được đăng ký theo quy định của pháp luật.
3
Ngân hàng A đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng như cử đại diện làm việc với gia đình bà Lê Thị T để tìm ra phương án giải quyết. Tuy nhiên bà Lê Thị T vẫn không trả đầy đủ số tiền nợ với Ngân hàng. Theo đó bà Lê Thị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng.
Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
+ Buộc bà Lê Thị T phải trả cho Ngân hàng A số tiền tính đến hết ngày 21/3/2024 cụ thể là:
- Nợ gốc: 462.800.000 đồng.
- Nợ lãi: 259.186.061 đồng. Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 259.108.272 đồng, lãi chậm trả lãi: 77.790 đồng.
- Tổng cả gốc và lãi là: 721.986.061 đồng.
+ Buộc bà Lê Thị T phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 22/3/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
+ Trường hợp bà Lê Thị T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 2745/2014/HĐTC ký ngày 06/11/2014 tại Văn phòng C2 để trả nợ cho Ngân hàng.
+ Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ và lãi phát sinh thì bà Lê Thị T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
* Bà Lê Thị T là bị đơn, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cháu Nguyễn Văn C1 trình bày:
Năm 2019 bà có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A Chi nhánh Đ – Phòng G1 vay số tiền 500.000.000 đồng. Mục đích là vay hộ cho vợ chồng anh trai ruột của chồng bà, chứ bà không sử dụng số tiền này. Bà đã nhận đủ số tiền gốc này, đến thời điểm hiện tại bà còn nợ Ngân hàng A số tiền nợ gốc là 473.000.000 đồng, nợ lãi là bao nhiêu bà không nắm rõ.
Để đảm bảo cho khoản vay này bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981 (hiện đang chấp hành án tại Trại giam N1, tỉnh Bắc Giang về tội mua bán trái phép chất ma tuý) đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL tại khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Thửa đất có nguồn gốc do cha ông để lại cho chồng bà và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn T1. Hiện tại trên thửa đất có nhà 2 tầng do vợ chồng bà xây dựng, bà và các con vẫn đang sinh sống trên đất.
Nay Ngân hàng khởi kiện thì bà đề nghị Toà án tạo điều kiện cho gia đình bà thu xếp tiền để trả nợ dần cho đến khi chồng bà chấp hành án xong.H Bà không yêu cầu giải quyết về việc bà cho vợ chồng anh trai ruột chồng bà vay tiền.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/02/2024 tại Trại giam N1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
4
Ông xác nhận có ký Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 2745/2014/HĐTC ký ngày 06/11/2014 tại Văn phòng C2, thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL tại khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, để đảm bảo cho khoản vay của vợ ông tại Ngân hàng A, số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng. Hiện nay vợ ông còn nợ Ngân hàng bao nhiêu tiền ông không nắm rõ.
Thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL tại khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội có nguồn gốc do cha ông để lại cho ông và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn T1. Hiện tại trên thửa đất có nhà 2 tầng do vợ chồng ông xây dựng, vợ và các con ông vẫn đang sinh sống trên đất.
Nay Ngân hàng khởi kiện thì ông có ý kiến đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian cho vợ ông trả nợ dần và đến khi ông được ra trại thì ông sẽ tìm cách trả nợ cho Ngân hàng.
Do điều kiện ông đang chấp hành án tại Trại giam, nên ông xin được vắng mặt trong các buổi làm việc tại Toà án và phiên toà xét xử vụ án.
Ông T1 đã được nghe đọc lại biên bản lấy lời khai, công nhận đúng lời khai của mình, tuy nhiên ông T1 từ chối ký vào biên bản. Biên bản lấy lời khai của ông T1 đã được Trại giam N1 xác nhận, ký và đóng dấu.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Anh Nguyễn Văn G: Toà án đã triệu tập anh G đến Toà án và trực tiếp đến nhà lấy lời khai của anh G nhiều lần, nhưng anh G đều không đến và cũng không có mặt tại nhà, do vậy nên không lấy được lời khai của anh G.
Tại phiên tòa:
+ Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Tính đến hết ngày 26/4/2024 tổng dư nợ của bà Lê Thị T tại Ngân hàng A như sau:
- Nợ gốc: 462.800.000 đồng.
- Nợ lãi: 265.348.275 đồng. Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 265.270.486 đồng, lãi chậm trả lãi: 77.790 đồng.
- Tổng cả gốc và lãi là: 728.148.275 đồng.
Ngân hàng vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu bà Lê Thị T phải thanh toán cho Ngân hàng A toàn bộ khoản nợ cả gốc và lãi như đã nêu trên.
Bà Lê Thị T tiếp tục phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Đối với khoản tiền lãi chậm trả lãi Ngân hàng A chỉ tính từ ngày chậm trả lãi đến ngày đến hạn trả nợ gốc, từ ngày đến hạn trả nợ gốc đến nay thì Ngân hàng A không tính lãi chậm trả lãi nữa, nên tính đến ngày 26/4/2024 tiền nợ lãi chậm trả lãi không có sự thay đổi, vẫn là 77.790 đồng.
Trong trường hợp bà Lê Thị T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL tại khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
5
và tài sản khác gắn liền với đất số BI 929810 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2012 mang tên ông Nguyễn Văn T1. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 2745/2014/HĐTC ký ngày 06/11/2014 tại Văn phòng C2 để trả nợ cho Ngân hàng.
Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bà Lê Thị T thì bà Lê Thị T phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền nợ còn thiếu cho Ngân hàng A.
+ Bà Lê Thị T: Là bị đơn đồng thời là người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Văn C1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên toà nên không có ý kiến trình bày tại phiên toà.
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Là ông Nguyễn Văn T1 hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam N1 và anh Nguyễn Văn G vắng mặt tại phiên toà, nên không có ý kiến trình bày tại phiên tòa.
+ Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án:
Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện theo đúng trình tự thủ tục tố tụng qui định, tuy nhiên vẫn còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án cũng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng qui định.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng A, bị đơn là bà Lê Thị T chấp hành đúng pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn G không chấp hành đúng pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Sau khi phân tích nội dung vụ án và đánh giá toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng. Xử:
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu thanh toán khoản tiền nợ gốc, nợ lãi quá hạn và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Không chấp nhận yêu cầu đối với khoản tiền lãi chậm trả lãi là 77.790 đồng.
+ Bà Lê Thị T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo qui định của pháp luật. Ngân hàng A phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ngân hàng A1 khởi kiện đến Tòa án buộc bà Lê Thị T có địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết và bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ. Do đó theo qui
6
định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự thủ tục tố tụng.
[1.2] Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị T thanh toán các khoản tiền nợ căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 3140LAV_201806471/HĐTD ngày 23/11/2018 và bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028. Mục đích vay mua gỗ và chi phí sản xuất kinh doanh khác. Đối tượng vay là sản xuất đồ gỗ. Do vậy nên căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” về Kinh doanh thương mại.
[1.3] Xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án như sau: Ngân hàng A là người khởi kiện, căn cứ theo khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định là nguyên đơn; Bà Lê Thị T là người bị nguyên đơn khởi kiện, căn cứ theo khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định là bị đơn; Ông Nguyễn Văn T1 là người thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay của bà Lê Thị T; Anh Nguyễn Văn G và cháu Nguyễn Văn C1 là con của bà T và ông T1 hiện đang sinh sống trên nhà đất thế chấp, nên căn cứ theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông T1, anh G và cháu C1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[1.4] Bà Lê Thị T là bị đơn không có yêu cầu phản tố. Ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn G, cháu Nguyễn Văn C1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Các đương sự có tên trên đều đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Bà T là bị đơn đồng thời là người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Văn C1 có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Ông T1 hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam N1, tỉnh Bắc Giang nên không thể có mặt tại phiên toà được. Anh Nguyễn Văn G vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Do vậy nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T, ông T1, anh G là phù hợp qui định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu trả nợ của nguyên đơn là Ngân hàng A đối với bị đơn là bà Lê Thị T theo Hợp đồng tín dụng số 3140LAV_201806471/HĐTD ngày 23/11/2018 và bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028, tổng dư nợ cả gốc và lãi tính đến hết ngày 26/4/2024 là: 728.148.275 đồng.
[2.1.1] Về khoản tiền nợ gốc: Xét thấy việc ký kết Hợp đồng tín dụng số 3140LAV 201806471/HĐTD ngày 23/11/2018 và Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028 giữa Ngân hàng A và bà Lê Thị T là hoàn toàn tự nguyện, các bên có đầy đủ hành vi dân sự và đủ tư cách đại diện tham gia ký kết. Quá trình thực hiện Hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho bà T đầy đủ số tiền gốc vay theo thoả thuận và đề nghị của bà T thông qua Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028. Hình thức và nội dung Hợp đồng phù hợp các
7
qui định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị T trình bày số tiền bà vay của Ngân hàng A là bà vay hộ cho vợ chồng anh trai của ông Nguyễn Văn T1 chồng bà. Toà án đã ban hành Thông báo về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng và Thông báo yêu cầu giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh về việc này. Tuy nhiên bà T không giao nộp tài liệu chứng cứ gì và cũng không có yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề này. Mặt khác bà T cũng thừa nhận có ký Hợp đồng tín dụng, có nhận tiền giải ngân từ Ngân hàng A, bà T vẫn xác nhận khoản nợ hiện nay tại Ngân hàng A và đề nghị Ngân hàng A tạo điều kiện để bà trả nợ dần. Do vậy nên Hội đồng xét xử xác định bà T là người vay nợ Ngân hàng A và bà T cũng là người phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng A.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng bà T đã trả được cho Ngân hàng A một phần tiền nợ gốc. Tính đến ngày 26/4/2024 bà T vẫn còn nợ Ngân hàng A tổng số tiền nợ gốc là 462.800.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng và Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ nêu trên. Nay Ngân hàng A yêu cầu bà T thanh toán khoản tiền nợ gốc như trên là hoàn toàn đúng qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A về việc yêu cầu bà T thanh toán khoản tiền nợ gốc là 462.800.000 đồng cho Ngân hàng A.
[2.1.2] Về khoản tiền nợ lãi: Số tiền nợ lãi Ngân hàng A yêu cầu bà T còn phải trả tính đến hết ngày 26/4/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 3140LAV 201806471/HĐTD ngày 23/11/2018 và Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028 với tổng số là 265.348.275 đồng. Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 265.270.486 đồng, lãi chậm trả lãi: 77.790 đồng.
Tại Hợp đồng tín dụng số 3140LAV 201806471/HĐTD ngày 23/11/2018 các bên thoả thuận phương thức áp dụng lãi là lãi suất cố định, lãi suất cho vay trong hạn là 9%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn. Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm.
Theo qui định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau về mức lãi suất trong các Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ, Ngân hàng có quyền qui định về cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. Do vậy nên việc các bên thỏa thuận mức lãi suất trong các Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ là đúng qui định của pháp luật.
Đối chiếu với bản sao kê tính lãi và các Thông báo về áp dụng lãi suất cho vay, thì Ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất đúng qui định của Ngân hàng A tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng. Về lãi quá hạn các bên thỏa thuận bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với qui định của pháp luật. Đối với lãi suất chậm trả lãi áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là hoàn toàn phù hợp qui định của pháp luật.
Xét các điều khoản trong Hợp đồng tín dụng, cam kết trả nợ trong Hợp đồng tín dụng, Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028 được các bên ký trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có nội dung phù hợp với quy định của
8
pháp luật nên có hiệu lực và ràng buộc các bên thi hành, do đó các bên có nghĩa vụ tuân thủ hợp đồng này. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và bà Lê Thị T. Do bà Lê Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản nợ đã chuyển thành nợ quá hạn. Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của Ngân hàng A yêu cầu bà Lê Thị T phải thanh toán tổng số tiền lãi chưa trả tính đến hết ngày 26/4/2024 là 265.348.275 đồng. Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 265.270.486 đồng, lãi chậm trả lãi: 77.790 đồng hoàn toàn có cở sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà Lê Thị T phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền nợ lãi nêu trên cho nguyên đơn là Ngân hàng A.
[2.2] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng A:
[2.2.1] Xét Hợp đồng thế chấp số công chứng 2745/2014/HĐTC ký ngày 06/11/2014 tại Văn phòng C2 giữa bên thế chấp – vay vốn là ông Nguyễn Văn T1 và vợ là bà Lê Thị T (Bên B) với bên nhận thế chấp Ngân hàng A – Chi nhánh Đ – Phòng G1 (Bên A). Hợp đồng thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bà Lê Thị T tại Ngân hàng A. Hợp đồng thế chấp nêu trên đều được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, không bị lừa dối, không bị ép buộc, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, Hợp đồng được lập thành văn bản, nên Hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành giữa các bên.
Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quy định tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL tại địa chỉ khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, diện tích 150,0m2 đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, nguồn gốc sử dụng đất là nhận tặng cho quyền sử dụng đất giãn dân.
Theo quy định tại điểm 7.2.5 Điều 7 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bên B cam đoan tài sản gắn liền với đất và toàn bộ phần giá trị tăng lên do đang và sẽ đầu tư vào tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp.
Tại điểm 2.3 Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quy định về nghĩa vụ bảo đảm thì bên B tự nguyện đem tài sản nói trên thế chấp cho bên A để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ cho bên B tại các Hợp đồng tín dụng được ký giữa hai bên (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan – nếu có), trong đó số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng.
Tại điểm 4.1 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quy định bên A được xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của bà Lê Thị T tại Ngân hàng A theo Hợp đồng tín dụng số 3140LAV 201806471/HĐTD ngày 23/11/2018 và Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028 bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL tại khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 929810 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2012 mang tên ông Nguyễn Văn T1. Theo Hợp đồng thế chấp
9
số công chứng 2745/2014/HĐTC ký ngày 06/11/2014 tại Văn phòng C2. Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 10/11/2014 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ.
Trong trường hợp bà Lê Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo qui định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng A đối với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn T1.
[2.2.2] Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ: Tòa án đã thành lập Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL tại khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội và đã tống đạt hợp lệ Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ cho các bên đương sự. Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ gia đình bà Lê Thị T đã vắng mặt, do đó Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ không thể tiến hành việc đo đạc hiện trạng thửa đất được mà chỉ tiến hành mô tả hiện trạng từ bên ngoài như sau:
+ Về đất: Vị trí đất trong khu dân cư. Tứ cận phía Nam giáp đường, phía Tây, phía Bắc và phía Đông đều giáp thửa đất của các hộ khác.
+ Tài sản trên đất có một nhà 02 tầng, khu công trình phụ, một phần sân lợp mái tôn khung sắt, sân gạch đỏ, tường 10, trụ cổng và cánh cổng, 01 cây nhãn. Trên đất có bà T và 2 con đang sinh sống.
+ Toàn bộ nhà đất hiện nay vẫn nguyên trạng như thời điểm thế chấp, không có sửa chữa, cải tạo gì.
[2.2.3] Căn cứ theo điểm 4.3.6 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp quy định số tiền thu được từ việc bán tài sản sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có), sẽ dùng để thanh toán các nghĩa vụ của bên B cho bên A, phần còn dư lại sẽ trả lại cho bên B; Nếu còn thiếu thì bên B có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ đối với bên A.
Do vậy, trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ của bà Lê Thị T thì bà Lê Thị T vẫn phải có trách nhiệm thanh toán nốt số tiền còn lại cho Ngân hàng A.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa về việc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu thanh toán khoản tiền nợ gốc, nợ lãi quá hạn, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, hoàn toàn có căn cứ và phù hợp các qui định của pháp luật. Đối với việc không chấp nhận yêu cầu đối với khoản tiền lãi chậm trả lãi là 77.790 đồng, theo quy định tại Nghị quyết số 01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì việc áp dụng lãi chậm trả lãi trên nợ gốc đối với các Hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ ngày 01/01/2017. Như đã phân tích ở trên thì Hợp đồng tín dụng số 3140LAV 201806471/HĐTD được ký kết giữa Ngân hàng A và bà Lê Thị T ngày 23/11/2018. Việc các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng và cam kết trả nợ trong Hợp đồng tín dụng và Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028 là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật. Hơn
10
nữa Ngân hàng A cũng xác nhận chỉ tính lãi chậm trả lãi từ ngày chậm trả lãi đến ngày đến hạn trả nợ gốc, từ ngày đến hạn trả nợ gốc đến nay thì Ngân hàng A không tính lãi chậm trả lãi nữa, nên tính đến ngày 26/4/2024 tiền nợ lãi chậm trả lãi không có sự thay đổi, vẫn là 77.790 đồng. Do vậy nên Hội đồng xét xử vẫn chấp nhận yêu cầu đối với khoản tiền lãi chậm trả lãi là 77.790 đồng của nguyên đơn.
[4] Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:
[4.1] Bà Lê Thị T phải trả tổng số tiền nợ cho Ngân hàng A tính đến hết ngày 26/4/2024 là 728.148.275 đồng (Bẩy trăm hai mươi tám triệu, một trăm bốn mươi tám nghìn, hai trăm bẩy mươi lăm đồng).
Theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án, điểm c khoản 1.4 Điều 1 Mục II Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Bà Lê Thị T phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm với mức thu là (20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng) là 33.125.931 đồng (Ba mươi ba triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm ba mươi mốt đồng).
[4.2] Ngân hàng A được hoàn trả số tiền 16.183.000 đồng (Mười sáu triệu, một trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký hiệu BLTU/23 số 0016883 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 351, Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự.
- Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26; điểm c khoản 1.4 Điều 1 Mục II Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
11
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với bà Lê Thị T.
- Buộc bà Lê Thị T phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806471 ngày 23/11/2018 và Bảng theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 23/11/2028, tạm tính đến hết ngày 26/4/2024 cụ thể là:
- Nợ gốc: 462.800.000 đồng.
- Nợ lãi: 265.348.275 đồng. Trong đó: Nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 265.270.486 đồng, lãi chậm trả lãi: 77.790 đồng.
- Tổng cả gốc và lãi là: 728.148.275 đồng.
- Kể từ ngày 27/4/2024, hàng tháng bà Lê Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận ký trong Hợp đồng tín dụng và B theo dõi phát tiền vay và kỳ hạn trả nợ nêu trên với Ngân hàng N cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
- Trong trường hợp bà Lê Thị T không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 03, tờ bản đồ số QHPL, diện tích 150m2 tại địa chỉ khu G, thôn T, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 929810 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 26/7/2012 mang tên ông Nguyễn Văn T1. Theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 2745/2014/HĐTC ký ngày 06/11/2014 tại Văn phòng C2, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 10/11/2014 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ.
- Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì những người hiện đang sinh sống trên đất phải có nghĩa vụ bàn giao tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ trả nợ cho Ngân hàng N thì bà Lê Thị T phải có trách nhiệm trả nốt số tiền còn lại cho Ngân hàng N.
- Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:
7.1. Bà Lê Thị T phải nộp án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 33.125.931 đồng (Ba mươi ba triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn, chín trăm ba mươi mốt đồng).
7.2. Ngân hàng N được hoàn trả số tiền 16.183.000 đồng (Mười sáu triệu, một trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký hiệu BLTU/23 số 0016883 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật
12
thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Ngân hàng N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà Lê Thị T, ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn G, cháu Nguyễn Văn C1 do bà Lê Thị T đại diện theo pháp luật có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo qui định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Thu Huyền |
Bản án số 20/2024/KDTM-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N khởi kiện bà Lê Thị T tranh chấp hợp đồng tín dụng
