Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-PT

Ngày: 25 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Lan.

Các Thẩm phán: Bà Lại Thị Hiếu, ông Phạm Tuấn Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Hồng Nết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 23/2024/TLPT - HS ngày 08/4/2024 đối với bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V do có kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Bị cáo kháng cáo: Kiều Ngọc Tuấn V1, sinh ngày 13/12/1990 tại huyện L, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Đảng viên Đ1 đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 84-QĐ/UBKTĐU ngày 31/10/2023 của Ủy ban Kiểm tra huyện ủy M1; con ông Kiều Ngọc L (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cú trú từ ngày 24/07/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Ngọc C - Luật sư Trung tâm T5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S; có mặt.

- Bị hại:

1. Cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 15/4/2016; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Y, Sơn La (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Hà Thị N (mẹ của bị hại), sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; có mặt; anh Nguyễn Văn H1 (bố của bị hại), sinh năm 1993; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Chị Hà Thị N, sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; có mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Tòng Văn M - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; có mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần X. Địa chỉ: Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1955, chức vụ: Nhân viên Công ty; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 01/5/2023 tại Km 222 + 800 Quốc lộ F thuộc địa phận bản Suối Bưn, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La, xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa ô tô khách BKS 26B - 007.69 do Kiều Ngọc Tuấn V điều khiển đi hướng Sơn La - Hà Nội với xe mô tô BKS 26B2 - 257.76 do chị Hà Thị N điều khiển chở hai con là Nguyễn Ngọc Huyền T sinh năm 2017 và Nguyễn Gia H sinh năm 2016 đi cùng chiều. Hậu quả: 03 người trên xe mô tô bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Y, sau đó cháu H tử vong, xe mô tô bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn là đường hai chiều, bên phải theo hướng Sơn La - Hà Nội, mặt đường được trải nhựa áp phan, không có chướng ngại vật. Mặt đường rộng 7m, ở giữa có vạch kẻ nét đứt màu vàng để phân chia phần đường. Lề đường phải, trái rộng 01 m. Phía trước hiện trường vụ tai nạn, ngoài mép đường phải hướng Sơn La - Hà Nội có biển báo W.225 “trẻ em”. Kết quả đo nồng độ cồn đối với Kiều Ngọc Tuấn V sau khi xảy ra tai nạn: 0,000mg/l khí thở. Kết quả kiểm tra chất ma túy đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông: âm tính.

Kết quả khám nghiệm xe ô tô 26B - 007.69 do Kiều Ngọc Tuấn V điều khiển xác định có 03 dấu vết: Phần mặt ngoài chắn bùn bánh lốp trước bên phải để lại vệt chùi sạch bụi kích thước 6cm x 25 cm, điểm thấp nhất đến mặt đường nhựa là 31cm, tâm vết cách chữ "O" trong dòng chữ “SAMCO” là 150cm. Tại mặt ngoài ốp lazăng bánh trước bên phải để lại vết chùi sạch bụi kích thước 12cm x 1,5 cm. T1 vết đo đến chữ “S” trong dòng chữ “SV402" là 8cm. Mặt ngoài khoang chứa hành lý số 1 bên phải để lại vết chùi trượt sạch bụi kích thước 35cm x 2cm, điểm gần nhất đến mặt đường nhựa là 70cm, điểm cao nhất đến mặt đường nhựa là 75cm, đầu vết đến mép nắp cốp là 60cm, cạnh dưới mặt ngoài nắp cốp để lại vết chùi sạch bụi kích thước 95cm x 22cm. Hệ thống phanh, côn, ga, số, đồng hồ, đèn, còi, cần gạt nước, gương chiếu hậu hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm tử thi ngày 01/5/2023, xác định các dấu vết tổn thương trên cơ thể của cháu Nguyễn Gia H: Đầu, mặt: Vùng đỉnh đầu có vết thương nằm dọc, bờ mép nham nhở sâu đến xương hộp sọ kích thước 3,6 cm x 0,7 cm, đầu mặt biến dạng bẹp chiều từ trái sang phải, từ sau ra trước. Toàn bộ vùng trán, thái dương, mà phải xây xước da trượt kích thước 15cm x 10,5 cm. Vùng thái dương, má trái có dám xây xước da trượt kích thước 7,5cm x 4,2cm; dập vỡ xương gò má hai bên, gãy xương hàm dưới; ngực: Có đám xây xước da kích thước 10cm x 03cm; bụng: Vùng thượng vị có đám xây xước da kích thức 6,5cm x 9,7cm; vùng hố chậu phải có dám xước da kích thước 5cm x 8,5cm; tay: Mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay phải có vết bầm tím kích thước 03cm x 2,6cm, mặt ngoài khuỷu tay phải có vết bầm tím kích thước 03cm x 1,5cm, mặt ngoài trên cánh tay trái có vết xây xước da, bầm tím kích thước 12cm x 02cm; mặt mu đốt 1, 2 ngón 4 có vết thương rách da 0,6 x 0,5cm, sâu 0,2cm; chân: Mặt mu ngón 3 bàn chân trái có vết xây xước da bầm tím kích thước 1,5cm x 0,6 cm. Mổ tử thi: Rạch mở da đầu thấy tổ chức dưới da, cơ thái dương hai bên tụ máu bầm dập. Xương trán, thái dương hai bên nứt vỡ phức tạp, diện vỡ bên trái 10cm x 3cm; diện vỡ bên phải 14cm x 5cm. Qua đường vỡ có nhiều máu và tổ chức não chảy ra. Kết luận giám định số: 964/KLGĐTT-PC09 ngày 10/5/2023 của Phòng PC09 Công an tỉnh S xác định nguyên nhân chết của Nguyễn Gia H là chấn thương sọ não - vỡ xương trán, xương thái dương hai bên, chảy máu nội sọ, dập nát tổ chức não. Các tổn thương gây tử vong này do tác động chèn ép, đè nén bởi vật tày, cứng làm đầu, mặt biến dạng, bẹp chiều từ trái sang phải, từ sau ra trước.

Ngày 16/5/2023 Cơ quan cảnh sát Công an huyện Y ra quyết định trưng cầu giám định dấu vết cơ học trên xe ô tô BKS 26B - 007.69 và xe mô tô BKS 26B2 - 257.76. Kết luận giám định số 1027/KL-KTHS ngày 16/5/2023 của Phòng PC09 Công an tỉnh S xác định: Xe ô tô biển kiểm soát 26B - 007.69 có va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 257.76. Vị trí va chạm được xác định là: Mặt ngoài, phía trước chắn bùn bánh lốp trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 26B - 007.69 để lại vết trượt mất bụi kích thước 25cm x 06 cm phù hợp dấu vết bám bụi kích thước 05cm x 2,5cm để lại tại mặt ngoài túi nilon đựng các gói bim bim treo trên móc treo hàng bên trong yếm trái xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 257.76.

Ngày 16/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông, xác định: Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 26B2 -257.76 nằm trên phần đường phải hướng Sơn La - Hà Nội; đo từ mép lốp phía trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 26B - 007.69 đến mép đường phải hướng Sơn La - Hà Nội là 1,88m; Đo từ mép lốp phía sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 26B - 007.69 đến mép đường phải hướng Sơn La - Hà Nội là 1,62 m; Đo từ mép lốp phía trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 257.76 đến mép đường phải hướng Sơn La - Hà Nội là 1,40 m; Đo từ mép lốp phía sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 257.76 đến mép đường phải hướng Sơn La - Hà Nội là 1,27 m.

Kết luận giám định số 1017/KL-KTHS ngày 16/5/2023 của Phòng PC09 Công an tỉnh S xác định: 02 (Hai) file video clip của camera giám sát hành trình (phía trước và phía sau) trên xe ô tô BKS 26B - 007.69 gửi giám định không bị cắt ghép chỉnh sửa về nội dung.

Kết luận giám định ngày 20/7/2023 của Sở Giao thông - Vận tải tỉnh S xác định: Kiểm tra thông tin kỹ thuật thực tế của xe, đối chiếu với hồ sơ cơ sở dữ liệu của Cục Đ2, phương tiện ô tô xe khách biển kiểm soát 26B - 007.69 có hạn kiểm định đến hết ngày 18/5/2023. Hệ thống phanh, hệ thống lái đều đầy đủ, nguyên vẹn, hoạt động bình thường. Hệ thống truyền lực và hệ thống treo: Đúng hồ sơ kỹ thuật của phương tiện.

Kết luận định giá tài sản số 25 ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y xác định: Giá trị phần hư hỏng do tai nạn giao thông của xe mô tô BKS 26B2 257.76 là 1.195.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V khai nhận: Khoảng 06 giờ 15 ngày 01/5/2023, Kiều Ngọc T2 V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 26B - 007.69 xuất bến xe khách Mường La đi trên Quốc lộ F để đến xã T, huyện M. Đến khoảng 09 giờ 45 cùng ngày, V điều khiển xe đi đến địa phận bản S, xã T, huyện Y với tốc độ dao động từ 41 km/h đến 62 km/h thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 257.76 do chị Hà Thị N điều khiển chở hai con là cháu Nguyễn Ngọc Huyền TNguyễn Gia H đi cùng chiều phía trước, trên xe treo một túi nilon đựng các gói bim bim tại móc trong yếm bên trái. Khi đi hết đoạn cua vòng sang phải hướng Sơn La - Hà Nội tại Km 222 + 800 Quốc lộ F thuộc địa phận bản Suối Bưn, xã T thì V điều khiển xe ô tô sang trái để vượt xe mô tô. Tại các biên bản ghi lời khai ngày 01/5/2023, 23/5/2023, biên bản hỏi cung ngày 17/8/2023, 21/9/2023, bị cáo đều xác nhận trước khi vượt xe mô tô BKS 26B2-257.76 biết rõ bị hại có nhận biết được tín hiệu mình đưa ra. Quá trình vượt xe bị cáo có nhìn gương chiếu hậu bên phải để quan sát nhưng không nhìn thấy khu vực sườn xe bên phải do đó là điểm mù. Sau khi vượt xe mô tô do chị N điều khiển V thấy bánh xe phía sau bên phải bị nảy sóc lên, nên nhìn qua gương chiếu hậu bên phải thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 26B2 - 257.76 cùng ba người trên xe bị đổ xuống đường. V cho xe dừng lại và xuống xem thì thấy cháu H bất tỉnh, mặt chảy nhiều máu, được chị N và người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa huyện Y, sau đó cháu H tử vong.

Bị cáo V cho rằng xe ô tô không va chạm với xe mô tô. Nguyên nhân xảy ra sự việc là do chị N điều khiển xe mô tô đánh lái sang trái để tránh người điều khiển xe mô tô dừng xe ở mép đường phải cùng chiều với chị N, đúng lúc xe khách của bị cáo vượt lên dẫn đến chị N giật mình mất lái, va chạm với phòng vệ mềm bên phải rồi ngã xuống đường khiến cháu H ngã đập đầu xuống nền đường dẫn đến tử vong. Tuy nhiên bị cáo thừa nhận là không trực tiếp nhìn thấy, mà do bị cáo cảm nhận, phán đoán.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thay đổi lời khai, cho rằng khi vượt xe khoảng cách giữa xe bị cáo điều khiển và xe của bị hại cách nhau từ 0,8 m đến 1m không xảy ra va chạm, do chị Hà Thị N đâm vào vật gì đó trên dường dẫn tới việc ngã ra đường, nhưng bị cáo không xác định được vật chị N đâm phải là gì.

Người làm chứng ông Nguyễn Đức Đ khai: Khi đang dừng đỗ xe ở ven đường thì thấy người phụ nữ điều khiển xe sát lề đường phải vượt qua mình khoảng 03m thì xe khách tăng tốc vượt qua người phụ nữ, khoảng cách giữa sườn phải xe ô tô và tay lái xe mô tô rất gần, khoảng 0,5m. Xe mô tô do người phụ nữ điều khiển bị ép sát ra mép đường phải, khi xe khách vượt được 1/3 thân xe thì xe mô tô bắt đầu loạng choạng mất thăng bằng và đổ nghiêng sang trái vào làn đường, người phụ nữ và cháu bé ngồi giữa ngã nghiêng sang phải theo lề đường còn cháu bé ngồi sau ngã nghiêng sang trái theo xe mô tô chạm vào thân xe ô tô bên phải rồi ngã xuống lòng đường đồng thời bị dàn lốp phía sau của xe ô tô khách cán qua.

Đối với thương tích của chị Hà Thị N và cháu Nguyễn Ngọc Huyền T: Ngày 09/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tống đạt Quyết định trưng cầu giám định và Quyết định dẫn giải nhưng chị N và cháu T đã từ chối giám định với lý do: thương tích nhẹ, đã khỏi, sức khỏe đã hồi phục. Ngày 05/9/2023, chị Hà Thị N và cháu Nguyễn Ngọc Huyền T có đơn xin từ chối giám định thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị N yêu cầu bồi thường 198.950.000 đồng chi phí mai táng, 5.000.000 đồng tiền bồi thường do mất khả năng lao động, 180.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thất tinh thần, chi phí sửa xe chưa xác định được do chưa được mang xe đi sửa. Sau khi sự việc, đại diện gia đình của bị cáo Tuấn V đã hỗ trợ gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng chi phí mai táng.

Ngày 15/7/2023, Công ty Cổ phần X đã tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả tại cơ quan Công an huyện Y số tiền 120.000.000 đồng.

Đối với phần hư hỏng của xe mô tô BKS 26B2- 257.76, theo kết luận định giá tài sản, giá trị phần hư hỏng số tiền 1.195.000 đồng. Bị hại không nhất trí vì cho rằng chiếc xe mô tô chưa được sửa chữa nên không xác định được thiệt hại.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Kiều Ngọc Tuấn V. Đối với xe ô tô BKS 26B - 007.69 và các giấy tờ kèm theo (giấy chứng nhận đăng ký xe; giấy chứng nhận kiểm định, 01 bản phô tô giấy chứng nhận bảo hiểm số 6318796: Ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là Công ty Cổ phần X. Đối với xe mô tô BKS 26B2 - 257.76, 01 bao tải dứa buộc kín mặt trước dán giấy ghi vật chứng vụ TNGT xảy ra ngày 01/5/2023, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AT871777 mang tên Hà Thị N, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô: Ngày 27/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Hà Thị N. Tuy nhiên chị N chưa đến nhận.

Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La quyết định:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, 585, 586, 589, 591, 600 Bộ luật Dân sự, tuyên bố bị cáo Kiều Ngọc T2 Vũ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Xử phạt bị cáo 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình. Hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề hoặc làm công việc lái xe trong 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591 và Điều 600 Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc bị đơn dân sự Công ty Cổ phần X phải bồi thường cho đại diện bị hại chi phí mai táng hợp lý và tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 160.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại chiếc xe máy cho chị Hà Thị N 1.195.000 đồng. Chấp nhận bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V, Công ty cổ phần X đã bồi thường cho gia đình bị hại cháu Nguyễn Gia H số tiền 150.000.000 đồng. Bị đơn dân sự phải tiếp tục bồi thường cho bị hại, đại diện bị hại số tiền 11.195.000 đồng.

3. Về án phí, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và bị đơn dân sự phải chịu 559.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết về vật chứng và tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng.

Ngày 04/02/2024, bị cáo kháng cáo kêu oan vì cho rằng: Biên bản khám nghiệm xe ô tô lập ngày 01/5/2023 bị cáo và chủ xe Nguyễn Đình T3 không được tham gia; không phân tích nội dung cam hành trình là oan sai cho cho bị cáo, cam hành trình ghi lại rõ bánh xe ô tô phía sau không hề cán qua bị hại.

Ngày 07/02/2024, người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo lên mức 05 năm tù, tước bằng lái xe vĩnh viễn và tăng mức bồi thường thiệt hại với số tiền 383.950.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo và quan điểm giải quyết vụ án: xét kháng cáo của bị cáo, người đại diện của bị hại:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu về tội danh đối với bị cáo. Không chấp nhận kháng cáo người bị hại Hà Thị N về nội dung tăng hình phạt, tước bằng lái xe vĩnh viễn đối với bị cáo.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 357 BLTTHS đề nghị chấp nhận 1 phần về nội dung yêu cầu tăng bồi thường dân sự (phần mai táng phí).

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Xử phạt Kiều Ngọc Tuấn V 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.

Hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề hoặc làm công việc lái xe trong 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591 và Điều 600 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015: Buộc bị đơn dân sự - Công ty Cổ phần X phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại chị Hà Thị N chi phí mai táng và sửa xe máy: tổng cộng 85.545.000đ; tổn thất tinh thần: 108.000.000đ. Tổng là 193.545.000₫

Gia đình bị cáo đã bồi thường 30.000.000đ và Công ty X đã bồi thường 120.000.000đ tổng cộng là 150.000.000đ. Buộc Công ty X còn phải bồi thường tiếp là 43.545.000đ.

Các nội dung khác của bản án về vật chứng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận. Bị đơn dân sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 2.177.250₫.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Ngọc C: không đồng ý về Biên bản khám nghiệm phương tiện là vi phạm Thông tư 119 của Bộ C1 về Khám nghiệm phương tiện xe, không có mặt bị cáo và chủ xe ; đề nghị: Hủy Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để trả hồ sơ điều tra bổ sung để xem xét, giám định lại về dấu vết trên xe, để xác định bị cáo V có lỗi trong vụ giao thông này; về trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V nhất trí với lời trình bày của người bào chữa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Tòng Văn M: Vị luật sư và bị cáo đã cố tình đánh tráo khái niệm nhiều lần, tại cấp sơ thẩm không sử dụng để áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; việc khám nghiệm hiện trường, nhân chứng, tài liệu khác là đảm bảo, hồ sơ tương đối đầy đủ tính khách quan, không có cơ sở lập trước lập sau; biên bản hiện trường, bản ảnh khám nghiệm phương tiện là tài liệu không tách rời nhau; có đủ cơ sở việc công ty X S la giao xe cho bị cáo điều khiển có lỗi gây ra thiệt hại cho người bị hại do đó căn cứ điều 507 Bộ luật dân sự (Pháp nhân) Công ty phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thực tế và tổn thất tinh thần là 100 tháng lương. Đề nghị: tăng mức hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường cho bị hại.

Đại diện Công ty X: Xác nhận chưa nhận số tiền 120.000.000đ đã nộp để bồi thường cho gia đình người bị hại. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại: Nhất trí với trình bày của người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình .

Bị cáo xác định đối với việc đại diện Viện kiểm sát cho rằng khai báo không thống nhất chỉ là do Công an đặt câu hỏi thì bị cáo mới trả lời.

Viện kiểm sát đối đáp với Luật sư bào chữa và bị cáo: Về thành phần khám nghiệm đối chiếu khoản 3 điều 201 BLTTHS quy định đảm bảo khách quan chính xác; các bản cung khai báo của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện rõ khai báo của bị cáo các bản cung đầu thống nhất, các bản cung sau bị cáo liên tục có sự thay đổi về lời khai; quan điểm: Giữ nguyên quan điểm đề nghị đối với bị cáo về tội danh, hình phạt;

- Viện kiểm sát đối đáp ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại: Về áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo không coi việc khai báo không thành khẩn là tình tiết tăng nặng và nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng di vậy không có căn cứ chấp nhận đề nghị này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Sau xét xử sơ thẩm, ngày 18/9/2023 bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn kháng cáo với nội dung không nhất trí bản án sơ thẩm. Xét đơn trong thời hạn luật định, hợp lệ về hình thức theo quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2.1] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

[2.1.1] Về thành phần tham gia khám nghiệm phương tiện: Việc khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông được thực hiện theo quy định về khám nghiệm hiện trường theo Điều 201 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 7, Điều 9 và Điều 11 Thông tư số 63/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ C1 quy định về quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của lực lượng cảnh sát giao thông. Theo đó, về hình thức và nội dung của Biên bản khám nghiệm thực hiện theo mẫu số 165 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 của Bộ C1 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự. Tại thời điểm khám nghiệm chiếc xe ô tô BKS 26B - 007.69, thành phần tham gia gồm có: Điều tra viên, Kiểm sát viên, công an xã T và người chứng kiến đủ chữ ký của thành phần tham gia. đảm bảo theo quy định (Bút lục 36, 67). Bị cáo không phải là thành phần tham gia bắt buộc. Như vậy, ý kiến của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Việc khám nghiệm do điều tra viên chủ trì, có lập biên bản, có sự tham gia của Kiểm sát viên và có người chứng kiến.

Tại Vi bằng ngày 27/01/2024 đã được xác lập ý kiến của người làm chứng về nội dung chứng kiến tại hiện trường vụ án phản ánh tính khách quan.

[2.1.2] Về nội dung của camera giám sát hành trình: Video clip trích xuất từ camera giám sát hành trình xe ô tô BKS 26B - 007.69 thể hiện “thời điểm 09 giờ 44 phút 58 giây xe ô tô biển kiểm soát 26B - 007.69 rung lắc mạnh sườn bên phải xe” trùng khớp với thời điểm xe mô tô biển kiểm soát 26B2- 257.76 cùng chị Hà Thị N và cháu Nguyễn Ngọc Ánh T4, Nguyễn Gia H ngã xuống đường. Phù hợp với dấu vết trên phương tiện và lời khai của chị N và người làm chứng anh Nguyễn Đức Đ, xác nhận của chủ phương tiện xe ô tô tại BL 124. Do đó, Cơ quan điều tra, truy tố đã xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn là do bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V đã vi phạm khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ, hành vi “vượt xe không tuân thủ quy định” khiến mặt ngoài túi ni lon đựng bim bim treo trên móc xe treo hàng phía bên trái xe xảy ra va chạm khiến xe máy do chị N điều khiển bị đổ (tại Kết luận giám định 1027 ngày 16/5/2023của Phòng K Công an tỉnh S về dấu vết cơ học) là nguyên nhân đã gây ra hậu quả dẫn đến cháu H tử vong, cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá về tội danh là có cơ sở, căn cứ đúng pháp luật.

[2.1.3] Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo.

[3] Về nội dung kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự và dân sự đối với bị cáo:

[3.1] Đối với yêu cầu tăng nặng hình phạt với bị cáo lên mức 05 năm tù: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình; việc xảy ra tai nạn là do lỗi vô ý; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo có ông bà là người có công với cách mạng. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo 24 tháng tù là phù hợp, có căn cứ.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Căn cứ nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 02 năm là có cơ sở phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Đề nghị của bị hại về việc tước bằng lái xe vĩnh viễn đối với bị cáo không phải là hình phạt bổ sung theo quy định của Bộ luật Hình sự, không có căn cứ chấp nhận.

[3.3] Về mức bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, 591, 592 và 600 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, buộc Công ty cổ phần X phải bồi thường cho bị hại chi phí hợp lý cho việc khám chữa, mai táng và tiền đền bù tổn thất tinh thần không quá 100 lần mức lương cơ sở. Căn cứ các hóa đơn, chứng từ hợp lệ và điều kiện hoàn cảnh, mức thu nhập của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bồi thường các khoản gồm: 52.000.000 đồng chi phí hợp lý cho việc mai táng của cháu Nguyễn Gia H và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần tương ứng 60 tháng lương tối thiểu là 108.000.000đ đồng. Hội đồng xét xử xét thấy các khoản chi phí mai táng bị hại mà Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận là các chi phí hợp lý theo đúng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Về phần bồi thường: Tại cấp phúc thẩm đại diện cho người bị hại đã đưa ra căn cứ yêu cầu chứng minh cho việc kháng cáo, qua đối chiếu với tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì đây không phải là chứng cứ mới, mà đã được cung cấp tại giai đoạn xét xử sơ thẩm.

Xét thấy đối với khoản bồi thường chi phí tổ chức tang lễ cho người bị hại cấp sơ thẩm đã buộc bị đơn dân sự phải bồi thường là 52.000.000 đồng bao gồm các khoản tiền mua quan tài, tiền hỏa táng, khăn tang, hương, hoa, di ảnh .... nhưng không tuyên cụ thể các khoản tiền chi phí mà gộp chung các khoản, chưa căn cứ vào hóa đơn bị hại chi phí cho việc tổ chức mai táng, chưa tính thu nhập thực tế bị mất của người bị hại và chi phí tiền xe đi lại cho người làm chứng là chưa đầy đủ, cần rút kinh nghiệm.

Tại Điều 591 Bộ luật Dân sự và Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thiệt hại bao gồm:

  • - Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm.
  • - Chi phí hợp lý cho việc mai táng đối với các khoản tiền: mua quan tài; chi phí hoả táng, chôn cất; các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng. Do đó cần chấp nhận các khoản chi phí thực tế và hợp lý như sau:

* Chi phí mai táng phí:

  • - Tiền xe đưa hỏa táng hóa đơn ngày 2/5/2023 (BL 439) = 12.150.000₫
  • - Xe đi lại trong 3 ngày chở người thân gia đình bị hại 7 người (BL 440) số tiền = 11.500.000 đ;
  • - Hợp đồng xe chở gia đình, người thân bị hại tổ chức mai táng ngày 20/5/2023 số tiền = 12.500.000 đ (BL 442);
  • - Chi phí mua bàn thờ, bát hương, lọ hoa (BL 441) = 12.600.000₫;
  • - Mua áo quan hóa đơn ngày 12/12/2023 gồm quan tài là 15.000.000đ và tiền tiểu + quách là 12.000.000đ. Tổng là 27.000.000₫ .
  • - Chi phí xe đi lại trong quá trình giải quyết vụ án ngày 01/6/2023 (BL 443) gồm:
  • + Thuê xe đến công an huyện C2 lần x 300.000 = 900.000 đ;
  • + 02 lần đi tắc xi + đi lại dựng lại hiện trường = 900.000 đ;
  • + Thuê xe dịch vụ 4 chỗ đi lại 07 lần: 2.100.000₫.
  • + Chi phí đi lại cho người làm chứng Nguyễn Đức Đ: 700.000đ.

* Chi phí thu nhập thực tế bị mất của Hà Thị N2: Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 02 Hội đồng thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hợp đồng quy định: 1. b). Có thiệt hại xảy ra về về vật chất “... thu nhập thực tế bị mất...”. Trong thời gian tổ chức tang lễ cho bị hại, đi làm việc có liên quan đến vụ án. chị N bị mất thu nhập thực tế, cần chấp nhận cho bị hại 20 ngày x 200.000₫ = 4.000.000₫;

* Chi phí sửa xe máy: 1.195.000 đ. Căn cứ kết luận định giá tài sản đảm bảo đúng thiệt hại tại thời điểm giám định.

Tổng các khoản chi phí được chấp nhận là: 85.545.000đ.

* Không chấp nhận các khoản chi phí sau: Căn cứ khoản 1 Điều 591 BLDS; khoản 2 Điều 8, điểm đ khoản 1 điều 3 Nghị quyết số 02 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 06/9/2022. Quy định: “ đ. Người yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ.

Tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết quy định: 2. “.... Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ”. Căn cứ vào quy định nêu trên xét đề nghị của bị hại N là không có căn cứ, nên không được chấp nhận các khoản sau:

  • - Tiền thuê xe dịch vụ ngày 19/1/2023 (BL 444) cho Luật sư bào chữa, chi phí thuê xe đi về ngày 31/01/2024 tổng chi phí = 3.800.000 đ
  • - Chi tiền cho bên nội đến dự đám tang (BL 446- 448) gồm 60 người x 3 ngày 250.000 = 45.000.000 đ;
  • - Chi tiền bên ngoại đến dự đám tang 65 người x 1 ngày x 250.000 đ = 16.250.000 đ;
  • - Đèn nhang cúng 100 ngày x 200.000 đ= 20.000.000đ;
  • - Mổ lợn 2 tạ = 13.900.000 đồng;
  • - Thuê thầy cúng = 3.000.000. Tổng các lần cúng: 8.220.000đ.
  • - Thuê thầy cúng 4 lần = 27.345.000 đ.
  • * Đối với khoản tiền bồi đắp tổn thất tinh thần người đại diện cho bị hại đề nghị số tiền 100.000.000 đồng: Cấp sơ thẩm đã xem xét người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại và xem xét nghề nghiệp, mức thu nhập và điều kiện của bị cáo đưa ra mức bồi thường số tiền là 108.000.000 đồng và giao cho người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Hà Thị N nhận là có căn cứ phù hợp.

[3.4] Về mức bồi thường thiệt hại về tài sản: Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty cổ phần X bồi thường thiệt hại chung và thiệt hại về tài sản (chiếc xe mô tô) cho chị N theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y là có căn cứ.

[35] Về chủ thể có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại: Bị cáo là người lao động theo hợp đồng của Công ty cổ phần X. Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 26B - 007.69 là tài sản của Công ty. Do vậy, căn cứ Điều 600 Bộ luật Dân sự, Công ty cổ phần X có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Tại cấp sơ thẩm, Công ty không đưa ra ý kiến về yêu cầu bị cáo hoàn trả nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra giải quyết là có căn cứ.

Người đại diện bị hại chị Hà Thị N cho rằng số tiền 30.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường là tiền của bị đơn dân sự nhưng ngoài lời khai thì không có căn cứ chứng minh nên không có cơ sở.

Từ những phân tích trên, có căn cứ xem xét chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của đại diện người bị hại chị Hà Thị N về việc tăng mức bồi thường thiệt hại về mai táng phí thực tế.

Như vậy tổng số tiền buộc công ty X phải bồi thường cho bị hại là 193.545.000đ trừ đi số tiền 30 triệu gia đình bị cáo đã hỗ trợ mai táng và 120.000.000đ còn phải bồi thường tiếp số tiền 43.545.000đ.

Từ những nhận định, trên chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Hà Thị N về phần trách nhiệm dân sự, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HSST của Tòa án nhân dân huyện Yên châu, tỉnh Sơn La.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Bị đơn dân sự có nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định đối với số tiền chưa bồi thường; Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo chịu án phí này tuy nhiên tại Quyết định số 03 ngày 08/4/2024 đã có quyết định sửa đổi, bổ sung buộc bị đơn dân sự phải chịu án phí là đúng quy định.

Bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Người đại diện hợp pháp của bị hại phải chịu án phí đối với những khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại không phù hợp và không được chấp nhận theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14nhiên xác định chị N là người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V về tội danh và hình phạt; chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại chị Hà Thị N về phần trách nhiệm dân sự và án phí; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, như sau:

1.1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Kiều Ngọc T2 Vũ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình. Hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề hoặc làm công việc lái xe trong 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

1.2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các khoản 1 Điều 584, 585, 586, 589, 591, 600 Bộ luật Dân sự, Điều 48 Bộ luật Hình sự:

Buộc bị đơn dân sự - Công ty Cổ phần X phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại chị Hà Thị N số tiền chi phí mai táng hợp lý, tiền bù đắp tổn thất tinh thần và bồi thường tiền thiệt hại về tài sản (xe máy) số tiền là 193.545.000₫ (trong đó: Chi phí mai táng và sửa xe máy: 85.545.000đ; bồi thường tổn thất tinh thần: 108.000.000₫).

Chấp nhận Công ty X đã nộp để khắc phục bồi thường số tiền 120.000.000đ (theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Y và Kho bạc Nhà nước Y ngày 21/7/2023 và phiếu nhập kho số 13/2023 ngày 21/7/2023 của Kho bạc Nhà nước Y) và bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 30.000.000đ. Buộc Công ty Cổ phần X phải bồi thường tiếp số tiền là 43.545.000đ (Bốn mươi ba triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng chẵn).

“Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền”.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, e khoản 2 Điều 23; Điều 26; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

  • - Bị cáo Kiều Ngọc Tuấn V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
  • - Bị đơn dân sự Công ty cổ phần X phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 2.177.200 đ (Hai triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm đồng).
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại chị Hà Thị N được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2024).

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.”

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV-THA;
  • - Lưu HCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mai Lan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Minh

Lại Thị Hiếu

Đinh Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 20/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt, tăng bồi thường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger