Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

 

Bản án số: 20/2024/DS-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Bạch Nhật Tuyến
  2. Bà Nguyễn Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (N1).

    Địa chỉ: 2, C, phường D, Quận C, TP ..

    Người đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người đại diện theo ủy quyền: Chị Trần Khánh H, sinh năm 1998.

    Địa chỉ: Lầu F, Số D L, Phường H, Quận T, TP ..

  2. Bị đơn: Bà Lê Thanh T1, sinh năm 1967.

    Địa chỉ: Số C, ấp P, xã T, Tp ., Đồng Tháp.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969.

    Địa chỉ: Ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 12 năm 2022, các lời khai tiếp theo, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N là bà Trần Khánh H trình bày:

Trước đây, Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh T3- P và bà Lê Thanh T1 đã ký hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019; giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019 để cấp tín dụng cho bà T1 với thông tin cụ thể như sau: Số tiền vay 1.000.000.000 đồng, mục đích vay hoàn tiền mua bất động sản phục vụ nhu cầu đời sống; lãi suất trong hạn: 12%/năm, lãi suất quá hạn 18%/năm; lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần; thời hạn vay 180 tháng (từ 30/01/2019 đến 30/01/2034).

Tổng dự nợ của khoản vay này tạm tính đến ngày 30/09/2022 là 1.603.298.241 đồng (Một tỷ, sáu trăm lẻ ba triệu, hai trăm chín mươi tám nghìn, hai trăm bốn mươi mốt đồng).

Để đảm bảo các khoản vay thì bà Lê Thanh T1 có thế chấp thửa đất thửa đất số 521, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.113m², đất tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Lê Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại hợp đồng thế chấp số 0060/2019/925-BĐ ngày 25/01/2019 tại Văn phòng C, địa chỉ: số A, khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Hiện tại trên thửa đất số 521, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.113m², đất tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An của bà Lê Thanh T1 có ông Nguyễn Văn L đang sử dụng xây dựng công trình, trồng cây.....trên đất bà T1 thế chấp Ngân hàng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thanh T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền vay còn thiếu tạm tính đến ngày 30/9/2022 là 1.603.298.241 đồng (Một tỷ, sáu trăm lẻ ba triệu, hai trăm chín mươi tám nghìn, hai trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó, nợ gốc là 994.444.000 đồng, nợ lãi là 608.854.241 đồng và bà Lê Thanh T1 vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi quy định tại hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng. Tại phiên tòa, phía ngân hàng thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T1 phải trả tiền vốn là 994.444.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 25/4/2024 là 923.595.384 đồng. Tổng cộng tiền vốn và tiền lãi là 1.918.039.384 đồng (Một tỷ, chín trăm mười tám triệu, không trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng) và tiếp tục trả lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi theo nội dung hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019; giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019 đã ký cho đến khi thanh toán nợ xong.

Trường hợp bà Lê Thanh T1 không thanh toán theo yêu cầu của ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là các quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp số 0060/2019/925-BĐ ký ngày 25/01/2019 là các tài sản đã nêu rõ tại phần nội dung tranh chấp để thu hồi nợ theo đúng quy định trong hợp đồng thế chấp tài sản như quy định pháp luật. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ thì bà T1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số nợ còn lại và Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục kê biên phát mãi các tài sản hợp pháp khác của bà T1 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ di dời, dọn dẹp hết tất cả những công trình, cây trồng...có trên đất để Ngân hàng có thể xử lý tài sản bảo đảm.

Ngoài ra, Ngân hàng TMCP N không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Lê Thanh T1 trình bày:

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Tòa án đã ra tống đạt hợp lệ (niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo cung cấp ý kiến và tài liệu chứng cứ và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà Lê Thanh T1 không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có ý kiến trình bày:

Thửa đất 521, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.113m² và tài sản gắn liền có trên đất. Thửa đất tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Lê Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có nguồn gốc là của ông L chuyển nhượng cho bà Lê Thanh T1 vào năm 2019. Sau khi chuyển nhượng đất cho bà T1 thì bà T1 không sử dụng, bỏ trống đất, thửa đất này giáp với thửa đất của ông L đang sử dụng nên ông L có làm nhà bò tạm kết cấu cột bêtông đúc nằm, mái tole, nền bê tông đá 1,2; Dện tích 12,5m x 6,5m = 81,25m² và làm hàng rào trụ bê tông đúc nằm, lưới B40 cao 1,4m, chiều dài khoản 130m, bao xung quang đất để chăn nuôi bò.

Ngoài ra, trên đất có 01 cây me loại A thì cây me này đã ngã, ông L đã cưa bỏ, còn một số cây tràm phân tán trong đất là tự mọc, ông L không có trồng, còn đối với hàng tràm giáp ranh đất của ông L là hàng tràm ranh ông L trồng để xác định ranh, trong trường hợp hàng tràm ranh này nằm trên thửa đất 521 thì ông L tự nguyện di dời, không yêu cầu hỗ trợ chi phí di dời. Đối với nhà bò và hàng rào lưới B40 (có kích thước như trên) thì ông L tự nguyện tháo dỡ, di dời tài sản trả lại đất, không yêu cầu hỗ trợ chi phí di dời tài sản.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn bà Lê Thanh T1 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; bà T1 không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP N.

Buộc bà Lê Thanh T1 trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền vốn vay còn nợ là 994.444.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 923.595.384 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi theo nội dung hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019; giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019 đã ký cho đến khi thanh toán nợ xong.

Trường hợp bà Lê Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 0060/2019/925-BĐ ngày 25/01/2019 để thu hồi nợ.

Ông Nguyễn Văn L có trách nhiệm di dời các công trình, kiến trúc, cây trồng có trên thửa đất số 521, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.113 m², đất tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Lê Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để giao trả lại phần đất này cho Ngân hàng TMCP N xử lý thu hồi nợ.

Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

    Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về tố tụng:

    Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn bà Lê Thanh T1 vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Do đó, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L theo quy định.

  3. Về nội dung tranh chấp:
    1. Hội đồng xét xử xét thấy:

      Về trình tự thủ tục và nội dung xác lập hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019, Giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019 giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP N và bên vay là bà Lê Thanh T1 là phù hợp với quy định của pháp luật, được công nhận, có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

      Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019; giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019, bà T1 đã vi phạm hợp đồng chưa trả đầy đủ vốn và lãi cho Ngân hàng theo như Hợp đồng đã ký kết, nên Ngân hàng khởi kiện yêu bà T1 trả số tiền vốn và tiền lãi và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    2. Tại phiên tòa,

      phía nguyên đơn yêu cầu bà T1 phải trả tiền vốn là 994.444.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 25/4/2024 là 923.595.384 đồng. Tổng cộng tiền vốn và tiền lãi là 1.918.039.384 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù tại đơn kiện và hoà giải ngân hàng yêu cầu bị đơn trả vốn là 994.444.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 30/09/2022 là 608.854.241 đồng; tuy nhiên theo thoả thuận thì việc tính lãi được tiếp tục cho đến khi Ngân hàng thu hồi đủ vốn và lãi, do đó Ngân hàng yêu cầu bà T1 trả tiền lãi tính đến ngày xét xử là 923.595.384 đồng là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

      Từ những căn cứ trên, buộc bà Lê Thanh T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vốn và tiền lãi tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 1.918.039.384 đồng và bà T1 phải tiếp tục chịu tiền lãi từ ngày 26/04/2024 theo mức lãi vay tại hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019; giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019 cho đến khi trả nợ xong.

  4. Đối với bị đơn bà Lê Thanh T1

    thì căn cứ kết quả xác minh của Công an xã T, thành phố S thì bà Lê Thanh T1 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số C, ấp P, xã T, thành phố S. Từ ngày 28/02/2023 (ngày thụ lý vụ án) cho đến nay bà Lê Thanh T1 có sinh sống tại địa chỉ số C, ấp P, xã T, thành phố S, có mặt tại địa chỉ trên và sinh sống bằng nghề làm thuê tại kho gạo trên địa bàn xã T, Tp .. Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã ra tống đạt hợp lệ (niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo cung cấp ý kiến và tài liệu chứng cứ và các văn bản tố tụng hợp lệ tại đúng địa chỉ của bị đơn bà Lê Thanh T1 nhưng bà T1 không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc, cũng như không đến tham dự phiên tòa.

  5. Về xử lý tài sản thế chấp:

    Khi bà T1 vay tiền ngân hàng, bà T1 có thế chấp thửa đất 521, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.113m² và tài sản gắn liền có trên đất. Thửa đất tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Lê Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại hợp đồng thế chấp tài sản ngày 25/01/2019 được lập tại Văn phòng C, địa chỉ số A, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Trong trường hợp bà T1 không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản để đảm bảo thi hành án.

  6. Đối với thửa đất 521, tờ bản đồ số 7 của bà T1 thì ông Nguyễn Văn L đang sử dụng.

    Trên thửa đất này ông L có xây nhà bò tạm, có kết cấu cột bêtông đúc nằm, mái tole, nền bê tông đá 1,2; Diện tích 12,5m x 6,5m = 81,25m² và làm hàng rào trụ bê tông đúc nằm, lưới B40 cao 1,4m, chiều dài khoảng 130m, bao xung quang đất để chăn nuôi bò và trồng hàng tràm để xác định ranh với bà T1. Ngoài ra, trên đất có một số cây tràm phân tán trong đất, ông L xác định số cây tràm phân tán này là tự mọc, ông L không có trồng.

    Đối với nhà bò và hàng rào lưới B40 (có kích thước như trên) thì ông L tự nguyện tháo dỡ, di dời tài sản trả lại đất; đối với hàng tràm làm ranh trường hợp hàng tràm nằm trên thửa đất 521, thì ông L cũng tự nguyện di dời, không yêu cầu hỗ trợ chi phí di dời, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của ông L.

  7. Đối với yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu trong trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ

    thì bà T1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số nợ còn lại và Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục kê biên phát mãi các tài sản hợp pháp khác của bà T1 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019 thì bà Lê Thanh T2 ký hợp đồng vay tiền với tư cách là cá nhân bên vay (bên được cấp tín dụng), bà T1 dùng tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc sở hữu cá nhân của mình để thế chấp, đảm bảo khoản vay cá nhân mình. Mặt khác, tại Khoản 8 Điều 5 hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019 hai bên thoả thuận “...Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu tại Hợp đồng này không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ (bao gồm trả nợ gốc, lãi và các chi phí có liên quan) cho Ngân hàng N, Ngân hàng N có quyền chỉ định xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc sở hữu của bên được cấp tín dụng để đảm bảo cho việc thu hồi toàn bộ số nợ còn thiếu và bên được cấp tín dụng có trách nhiệm tiếp tục trả đầy đủ nợ gốc, lãi tiền vay và các chi phí khác có liên quan cho Ngân hàng N...”. Đồng thời, tại Điểm 2.11 Điều 5 của Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 25/01/2019 được lập tại Văn phòng C, địa chỉ số A, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thoả thuận: “Trong trường hợp tài sản thế chấp được xử lý để thu hồi nợ mà tiền bán tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì bên B (bà Lê Thanh T1) phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng”. Do đó, trong trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm, mà bà T1 vẫn không trả hết nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành án đến khi Ngân hàng thu hồi đủ vốn và lãi.

  8. Đối với ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc

    đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  9. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

    Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.900.000 đồng. Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, nên bị đơn bà T1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định.

  10. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, nên bà T1 phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N (N2) về việc yêu cầu bị đơn bà Lê Thanh T1 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần, Giấy nhận nợ.
  2. Buộc bà Lê Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền vốn và tiền lãi của hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019; giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019 tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 994.444.000 đồng tiền vốn và 923.595.384 đồng tiền lãi. Tổng cộng tiền vốn và tiền lãi là 1.918.039.384 đồng (Một tỷ, chín trăm mười tám triệu, không trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng) và tiếp tục trả lãi từ ngày 26/4/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0070/2019-CV ngày 25/01/2019, Giấy nhận nợ số 01/GNN-0070/2019/925-CV ngày 30/01/2019 cho tới khi bà Lê Thanh T1 thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

    Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất 521, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.113m², mục đích sử dụng đất trồng cây hàng năm khác (HNK), đất tọa lạc tại ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Lê Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày 25/01/2019 được lập tại Văn phòng C, địa chỉ số A, Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Trong trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không trả hết nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành án đến khi Ngân hàng thu hồi đủ vốn và lãi.

    Trường hợp bà Lê Thanh T1 đã thi hành án xong hoặc đã trả hết nợ mà tài sản thế chấp không bị phát mãi để thi hành án thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại cho bà Lê Thanh T1 toàn bộ bản chính giấy tờ tài sản thế chấp (hiện Ngân hàng đang giữ).

  3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn L:

    Ông Nguyễn Văn L di dời toàn bộ tài sản của ông L ra khỏi thửa đất số 521, tờ bản đồ số 7 khi Bản án có hiệu lực, để Ngân hàng thực hiện thủ tục phát mãi tài sản thu hồi nợ.

  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

    Bà Lê Thanh T1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.900.000 đồng. Do chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng TMCP N đã nộp tạm ứng và đã chi xong số tiền 4.900.000 đồng nên bà T1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP N số tiền là 4.900.000 đồng.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Lê Thanh T1 phải chịu 69.541.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Ngân hàng TMCP N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.050.000 đồng tại biên lai số 0015046 ngày 23/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND TP. Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Phạm Văn Tuấn Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger