Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Hữu Sơn

2. Ông Đặng Minh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Thuỷ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Ngày 24-9-2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2024/TLST-HNGĐ ngày 18-6-2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21-8-2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 06-9-2024 được ấn định thời gian và địa điểm xét xử lại phiên tòa, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Lương Ngọc D, sinh năm 1991. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.

  3. Bị đơn: Chị Đinh Thị Kiều N, sinh năm 2003. Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-6-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lương Ngọc D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Ngọc D và chị Đinh Thị Kiều N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái vào ngày 30-6-2022. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị N tự ý bỏ nhà đi nơi khác sinh sống, mặc dù anh D có động viên nhưng chị không về. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02-2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện Trấn Yên giải quyết cho anh được ly hôn chị Đinh Thị Kiều N.

Về con chung: Anh Lương Ngọc D và chị Đinh Thị Kiều N có một con chung là Lương Gia B, sinh ngày 15-6-2022. Ly hôn, anh D có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lương Gia B, không yêu cầu chị N cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lương Ngọc D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, tuy nhiên bị đơn chị Đinh Thị Kiều N không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của chị Đinh Thị Kiều N và Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Đinh Thị Kiều N có đăng ký hộ khẩu tại Thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Căn cứ theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên yêu cầu ly hôn của anh Lương Ngọc D thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Bị đơn chị Đinh Thị Kiều N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn anh Lương Ngọc D vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Ngọc D và chị Đinh Thị Kiều N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái vào ngày 30-6-2022 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Theo anh D, vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị N tự bỏ nhà đi, mặc dù anh có khuyên bảo nhưng chị N không về. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02-2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân huyện Trấn Yên giải quyết cho anh được ly hôn chị Đinh Thị Kiều N.

Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã thông báo nhiều lần nhưng bị đơn chị N không đến Tòa, không có bản tự khai gửi cho Toà án, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh D, chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có căn cứ cho anh Lương Ngọc D được ly hôn chị Đinh Thị Kiều N theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh Lương Ngọc D và chị Đinh Thị Kiều N có một con chung là Lương Gia B, sinh ngày 15-6-2022. Ly hôn, anh D có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung. Bị đơn chị N không đến Toà án và không có lời khai thể hiện nguyện vọng được nuôi con, vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo về điều kiện tinh thần và cuộc sống ổn định cần tiếp tục giao cháu Lương Gia B cho anh Lương Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Xét thấy chị N vắng mặt tại Tòa án, anh D cũng không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản và nợ chung: Anh Lương Ngọc D không yêu cầu Tòa án giải quyết, mặt khác do chị N chưa có lời khai nên chưa có cơ sở xem xét. Vì vậy, Tòa án không đặt ra giải quyết quan hệ về tài sản và nợ chung.

[5] Về án phí: Anh Lương Ngọc D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Ngọc D được ly hôn chị Đinh Thị Kiều N.
  2. 2. Về con chung: Giao cháu Lương Gia B, sinh ngày 15-6-2022 cho anh Lương Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị Đinh Thị Kiều N không phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  4. 3. Về án phí: Anh Lương Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000475 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái ngày 18-6-2024.
  5. 4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Trấn Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Trấn Yên;
  • - UBND xã Hưng Thịnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, TA, HSVA.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Như Quỳnh Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger