|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/KDTM-PT Ngày: 24/6/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Điều Văn Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;
Ông Nguyễn Phan Nam.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Cảnh D, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 15/2024/TLPT-KDTM ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2022/KDTM-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6408/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng G – Giám đốc A3 Chi nhánh B; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án: Ông Giáp Quang K – Cán bộ pháp chế - Phòng Kiểm tra Kiểm soát nội bộ - A3 Chi nhánh B; có mặt.
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3.
Địa chỉ: Lô A, làn B đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D1 – Giám đốc Công ty, sinh năm 1973; địa chỉ: Làng N, thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Văn Q, sinh năm 1975; nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ hiện nay: Số A M, Yagoona NSW 2199, Australia.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Chị Đặng Thị Lan A, sinh năm 1997; địa chỉ cuối cùng: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; hiện đang sinh sống tại Canada.
- Chị Đặng Mai A1, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1: Luật sư Dương Minh K1, thuộc Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh B; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là Ngân hàng N do ông Giáp Quang K đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 14/10/2010, Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B, (nay được đổi tên là: Ngân hàng N - Chi nhánh B), (viết tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng tín dụng 2501LAV201001953/HĐTD với Công ty TNHH T3 (viết tắt là Công ty T3) trong đó Công ty T3 vay của Ngân hàng số tiền là: 8.000.000.000 đồng.
- Mục đích sử dụng vốn vay: Thực hiện dự án thi công nhà máy ép ván sợi MDF theo hợp đồng thi công xây dựng số 03/2010/HĐXD ngày 05/10/2010;
- Lãi suất tiền vay: Theo từng lần nhận nợ;
- Thời hạn cho vay: 12 tháng;
- Phương thức trả lãi: cùng kỳ trả gốc.
- Hình thức bảo đảm: Cho vay có tài sản bảo đảm;
Theo đó, Công ty T3 đã nhận nợ tiền vay làm 04 lần, cụ thể theo các Giấy nhận nợ cụ thể như sau:
- Giấy nhận nợ ngày 11/3/2011, số giải ngân 2501LDS201100475:
Số tiền giải ngân: 1.900.000.000 đồng; Dư nợ gốc hiện tại: 448.560.000 đồng; Dư nợ lãi đến ngày 29/9/2022: 1.455.522.932 đồng, (trong đó lãi trong hạn là: 167.638.753 đồng, lãi quá hạn: 1.287.884.179 đồng);
Phương thức giải ngân: Chuyển khoản trả tiền mua hàng cho Công ty X (viết tắt là Công ty Đ), số tài khoản 2501201001036.
- Giấy nhận nợ ngày 16/3/2011, số giải ngân 2501LDS201100511:
Số tiền giải ngân: 1.850.000.000 đồng; Dư nợ gốc hiện tại: 550.000.000 đồng; Dư nợ lãi đến ngày 29/9/2022: 1.543.381.042 đồng (trong đó lãi trong hạn là: 178.833.333 đồng, lãi quá hạn: 1.364.547.709 đồng);
Phương thức giải ngân: Chuyển khoản trả tiền mua hàng cho Công ty Đ, số tài khoản 2501201001036.
- Giấy nhận nợ ngày 18/3/2011, số giải ngân 2501LDS201100537:
Số tiền giải ngân: 850.000.000 đồng; Dư nợ gốc hiện tại: 329.460.000 đồng; Dư nợ lãi đến ngày 29/9/2022: 1.308.654.038 đồng (trong đó lãi trong hạn là:82.308.333đồng, lãi quá hạn: 1.226.345.705 đồng);
Phương thức giải ngân: Chuyển khoản trả tiền mua hàng cho Công ty Đ, số tài khoản 2501201001036.
- Giấy nhận nợ ngày 13/5/2011, số giải ngân 2501LDS201101005:
Số tiền giải ngân: 170.000.000 đồng; Dư nợ gốc hiện tại: 170.000.000 đồng; Dư nợ lãi đến ngày 29/9/2022: 401.384.167 đồng (trong đó lãi trong hạn là: 14.577.500 đồng, lãi quá hạn: 386.806.667 đồng)
Phương thức giải ngân: Bằng tiền mặt.
Tổng số tiền Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty là: 6.390.000.000 đồng;
Để bảo đảm cho khoản vay của Công ty, ngày 10/3/2011 bên thứ 3 là vợ chồng bà Nguyễn Thị T, ông Đặng Văn Q và Ngân hàng đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 20110305ª; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất có diện tích 164,2m² tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 01 tại Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo GCNQSD đất số AN991057, số vào sổ: H00797/QĐ số 7684/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 30/12/2008 mang tên bà Nguyễn Thị T, ông Đặng Văn Q. Tài sản trên đất là ngôi nhà ở 3 tầng có diện tích khoảng 360m². Hợp đồng thế chấp tài sản được công chứng tại Văn phòng Công chứng Minh Khai và đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Tại Hợp đồng thế chấp tài sản mà Ngân hàng cung cấp cho Tòa án gồm: Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 10/3/2011; Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 20110305A ngày 10/3/2011; Biên bản định giá tài sản bảo đảm ngày 10/3/2011 thể hiện nội dung mô tả tài sản thế chấp của vợ chồng bà T, ông Q là “Nhà gác 3 tầng diện tích 360m²".
Tại Hợp đồng thế chấp tài sản còn lưu tại Văn phòng Công chứng Minh Khai thể hiện tài sản thế chấp là “Nhà gác 4,5 tầng diện tích 560m²”. Có việc sai sót này là do lỗi của cán bộ Ngân hàng, nhưng nay Ngân hàng không rõ ai là người sửa chữa các tài liệu còn lưu ở Ngân hàng. Thực tế hiện nay thì vợ chồng bà T, ông Q chỉ có “Nhà gác 3 tầng diện tích 360m² ”mà không phải là “Nhà gác 4,5 tầng diện tích 560m²” ghi trong Hợp đồng thế chấp tài sản của còn lưu của Văn phòng Công chứng Minh Khai.
Nay, đã quá thời hạn trả nợ ghi trên Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ kèm theo nhưng Công ty T3 không trả được tiền cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu Công ty trả tiền cho Ngân hàng nhưng không có kết quả.
Tính đến ngày 29/9/2022 Công ty còn nợ Ngân hàng tổng tiền số tiền là: 6.206.962.179 đồng. Trong đó tiền gốc là: 1.498.020.000 đồng, tiền lãi là: 4.708.942.179đồng, (trong đó lãi trong hạn là: 443.357.919 đồng, lãi quá hạn: 4.265.584.260 đồng).
Nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết các nội dung sau:
Buộc Công ty T3 phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền trên; Ngân hàng còn đề nghị Công ty phải trả tiền lãi phát sinh sau ngày 29/9/2022 đến khi Công ty trả hết nợ cho Ngân hàng.
Nếu Công ty T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đề nghị được phát mại tài sản thế chấp của ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T theo Hợp đồng thế chấp tài sản nói trên để Ngân hàng thu hồi nợ.
Bị đơn là Công ty T3 do ông Nguyễn Văn D1 - Giám đốc Công ty là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Công ty T3 có địa chỉ trụ sở tại Lô S, làn B đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nhưng hiện nay Công ty T3 không còn hoạt động tại địa chỉ này nữa.
Ngày 14/10/2010, Công ty T3 đã ký Hợp đồng tín dụng số 2501- LAV-201001953 có nội dung Công ty T3 vay tiền của Ngân hàng. Công ty cũng đã ký vào các Giấy nhận nợ như đại diện Ngân hàng đã trình bày là đúng nhưng việc ông là Giám đốc Công ty đã ký vào các tài liệu nói trên theo hướng dẫn của anh H là cán bộ của Ngân hàng. Anh H đã nói là nhờ Công ty T3 ký các tài liệu là để đáo hạn cho khoản nợ của Công ty T3 không được nhận một đồng tiền nào từ phía Ngân hàng.
Nay, Công ty không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về nghĩa vụ trả nợ và việc phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của vợ chồng ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T tại Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện nay Công ty T3 cũng chưa làm thủ tục đề nghị phá sản tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Mọi thông tin về Công ty T3 đều liên lạc về nơi ở của ông tại thôn T, xã N, huyện T, Bắc Giang.
Người có quyền lọi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà là vợ ông Đặng Văn Q. Vợ chồng bà có tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất có diện tích 164,2m² tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 01 tại Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo GCNQSD đất mang tên bà Nguyễn Thị T, ông Đặng Văn Q.
Giữa vợ chồng bà và anh Nguyễn Xuân H1 cán bộ của Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B có quan hệ quen biết từ trước nên anh H1 đã đề nghị vợ chồng bà cho Công ty Đ1 GCNQSD đất để Công ty Đ vay vốn của Ngân hàng, vợ chồng bà đã đồng ý.
Ngày 10/3/2011, anh H1 đã yêu cầu vợ chồng bà ký Hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng số 20110305A để đáo nợ cho Công ty Đ2 của Ngân hàng số tiền 1,5 tỷ đồng trong thời hạn 6 tháng, vợ chồng bà đã đồng ý ký vào Hợp đồng thế chấp tài sản nhưng đã không đọc nội dung của Hợp đồng. Vợ chồng bà cũng không phải đến Văn phòng Công chứng Minh Khai để thực hiện việc công chứng mà do anh H1 đã cầm Hợp đồng đến nhà bà tại huyện L để vợ chồng bà cùng ký. Đến khi Tòa án thụ lý vụ án bà mới biết vợ chồng bà đã ký vào Hợp đồng thế chấp tài sản để Công ty T3 vay tiền của Ngân hàng.
Nay bà không nhất trí với các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Năm 2015, ông Q đã đi Australia để làm ăn, thỉnh thoảng ông Q có điện thoại về nhà. Bà và ông Đặng Văn Q đã ly hôn, tại Bản án số 21/2017/HNGĐ-ST ngày 12/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung nhưng không giải quyết về phân chia tài sản của chung của vợ chồng. Khi Tòa án có Thông báo thụ lý vụ án, bà có thông tin cho ông Q biết, ông Q đã nói với bà là ông Q không đồng ý với yêu câu khởi kiện của Ngân hàng.
Vợ chồng bà có 02 con chung là chị Đặng Thị Lan A sinh năm 1997 và chị Đặng Mai A1, sinh năm 2003. Chị Đặng Thị Lan A đi du học Canada từ năm 2017 nhưng bà không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị Lan A. Chị Mai Al vẫn đang ở cùng bà.
Ông Đặng Văn Q:
Ngày 26/5/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý vụ án thì ông Q không có mặt tại địa phương mà đã đi lao động tại Australia. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết theo thẩm quyền do có đương sự ở nước ngoài. Quá trình Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu Ngân hàng, bà T là vợ ông Q cung cấp địa chỉ của ông Q nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể của ông Q tại nước ngoải.
Sau đó bà Nguyễn Thị T đã có đơn xin ly hôn ông Q tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Quá trình Tòa án giải quyết việc ly hôn của bà T và ông Q, bà T đã cung cấp cho Tòa án địa chỉ cụ thể của ông Q tại Australia.
Ngày 26/7/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Văn bản ủy thác số 32/UTTPDS-TA5 gửi Đ3 tại Australia đề nghị tống đạt các Văn bản tố tụng cho ông Đặng Văn Q.
Tại Biên bản xác nhận số 22-2018/LS-UTTP, ngày 23/9/2018, Đ3 tại Australia đã có nội dung: Đại sứ quán đã gửi kết quà cho Tòa án thể hiện Đại sứ quán đã chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp cho đương sự nhưng không thấy hồi âm từ đương sự. Đại sứ quán đã tiến hành niêm yết nội dung ủy thác nhưng đương sự không đến nhận hồ sơ tống đạt.
Từ ngày 23/9/2018 đến nay, Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của ông Đặng Văn Q tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên Tòa án không nhận được ý kiến phản hồi nào từ phía ông Q.
Chị Đặng Thị Lan A:
Là con của ông Q và bà T, bà T đã trình bày là chị Lan A đang du học ở Canada nhưng bà T1 không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị Lan A. Tòa án đã yêu cầu Ngân hàng và bà T là mẹ đẻ chị Lan A cung cấp địa chỉ của chị Lan A ở nước ngoài nhưng Ngân hàng, bà T không thể cung cấp được. Bà T đã trình bày là bà T và chị Lan A vẫn thường xuyên liên lạc bằng điện thoại. Tòa án án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với chị Đặng Thị Lan A. Từ đó đến nay chị Lan A không đến Tòa án làm việc cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình cho Tòa án.
Chị Đặng Thị Mai A2:
Là con của ông Q và bà T. Hiện nay chị Mai A2 đang ở cùng bà Đặng Thị T2 tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cán bộ Tòa án đến thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang để tiến hành làm việc với chị Mai A2 nhưng không thể gặp được chị Mai A2. Địa phương cung cấp chị Mai A2 thường xuyên không có mặt ở nhà, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối với chị Mai A2 nhưng chị Mai A2 không đến Tòa án làm việc cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến cho Tòa án.
Ngày 12/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang có quyết định số 27/2019/QĐ-TĐTC xem xét, thẩm định tại chỗ và Thông báo thay đổi thời gian xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản số 270/TB-TA ngày 09/9/2019 đối với diện tích đất và tài sản trên đất của hộ ông Q, bà T2 ngày 08/11/2019.
Quá trình thẩm định đất đã thể hiện như sau: Phần đất có diện tích 164,2m² tại thửa số 59, tờ bản đồ số 01 tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang được UBND huyện L cấp GCNQSD đất mang tên ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên hiện trạng. Trên đất gồm nhà 03 tầng kiên cố, mặt tiền 8,1m; sâu khoảng 10m, diện tích khoảng 120m²/sàn, (đất không có biến động gì).
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 09/12/2019, bà T đề nghị Ngân hàng cung cấp các tài liệu gốc trong Hợp đồng thế chấp tài sản. Sau khi được xem các tài liệu do Ngân hàng cung cấp. Bà T1 đề nghị giám định đối với thông tin về: “Tài sản gắn liền với đất” trên các tài liệu gốc gồm: Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 10/3/2011; Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 20110305A ngày 10/3/2011; Biên bản định giá tài sản bảo đảm ngày 10/3/2011.
Hội đồng xét xử đã có quyết định tạm ngừng phiên tòa. Ngày 09/12/2019, Tòa án tỉnh Bắc Giang có Quyết định thu thập tài liệu chứng cứ yêu cầu Văn phòng C (nay là Văn phòng C1) cung cấp cho Tòa án các tài liệu gồm:
Bản sao Hồ sơ công chứng đối với Hợp đồng thế chấp tài sản giữa vợ chồng bà Nguyễn Thị T, ông Đặng Văn Q và Ngân hàng, được công chứng ngày 10/3/2011, tại Văn phòng Công chứng Minh Khai, do Công chứng viên Nguyễn Văn L thực hiện có số công chứng 232/211, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGĐ.
Tại Công văn số 01/CV-VPCC ngày 06/01/2020 của Văn phòng C nay là Văn phòng C1 đã nêu: Hiện nay văn phòng C1 còn lưu 01 bản chính Hợp đồng nêu trên và Văn phòng Công chứng sẽ cung cấp cho Tòa án 01 bản sao theo yêu cầu của Tòa án. Tuy nhiên Bản sao Hồ sơ công chứng đối với Hợp đồng thế chấp tài sản giữa vợ chồng bà Nguyễn Thị T, ông Đặng Văn Q với Ngân hàng (được công chứng ngày 10/3/2011 tại Văn phòng Công chứng Minh Khai do công chứng viên Nguyễn Văn L thực hiện có số công chứng 232/211 quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGĐ) đã thể hiện nội dung mô tả tài sản thế chấp là “Nhà gác 4,5 tầng dt 560m²” khác với nội dung mô tả tài sản thế chấp “Nhà gác 3 tầng dt 360m²” tại các tài liệu gốc do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án.
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định trưng cầu giám định số 18/2019/QĐ-TCGĐ ngày 10/12/2019 đề nghị Phòng K2, Công an tỉnh B thực hiện nội dung giám định gồm:
- Dòng chữ: “Nhà gác 3 tầng dt 360m²” tại dòng thứ 4 từ trên xuống trang 2 của Bàn gốc Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 10/3/2011 có bị tẩy xóa không?
- Dòng chữ: “Nhà gác 3 tầng diện tích 360m²” tại dòng thứ 7 từ trên xuống trang 2 của Bản gốc Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 20110305A ngày 10/3/2011 có bị tẩy xóa không?
- Dòng chữ: “Nhà gác 3 tầng - 360m²” tại dòng thứ 22 từ trên xuống của Biên bản định giá tài sản bảo đảm số 20110305A ngày 10/3/2011 có bị tẩy xóa không?
Tại Kết luận giám định số 1984/KLGĐ-KTHS Ngày 16/12/2019 của Phòng K2, Công an tỉnh B đã nêu:
- Dòng chữ “Nhà gác 3 tầng dt 360m²” tại mục “ 3.2.3 Mô tả tài sản thế chấp” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế.
- Dòng chữ “3 tầng, diện tích” tại mục “ Điều 1. Tài sản thế chấp - 1.1. Bên B là chủ sở hữu hợp pháp các tài sản sau đây - Mô tả tài sản thế chấp” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế.
- Chữ số “3” trong dòng chữ “ Nhà gác 3 tầng” tại cột “Tên tài sản” “360” tại cột “Số lượng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế.
Ngày 07/01/2020, Ngân hàng có văn bản gửi Tòa án có nội dung: “Sau khi đổi chiếu giữa 2 văn bản là Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bân thứ ba số 20110305A ngày 10/03/2011 được lưu giữ tại Văn phòng công chứng và bản lưu tại A3, phía nguyên đơn nhận thấy sự khác biệt giữa hai văn bản trên. Nhưng A4 Chi nhánh B không có cơ sở xác định có việc sửa chữa, bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế, in chèn thêm và cũng không xác định được người thực hiện. Đối với Kết luận giám định số 1984/KLGĐ-KTHS ngày 16/12/2019 của Phòng K2, Công an tỉnh B, A3 Chi nhánh B không có ý kiến gì”.
Ngày 02/01/2020, bà Nguyễn Thị T có đơn tố cáo cán bộ của Ngân hàng đã sửa chữa, giả mạo nội dung chứng cứ, giả mạo nội dung Hồ sơ tín dụng của Ngân hàng, đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ vụ án sang Cơ quan Cảnh sát điêu tra - Công an tỉnh B để xem xét dấu hiệu hình sự.
Ngày 08/01/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định Tạm đình chỉ vụ án số: 01/2020/QÐST-KDTM, đợi kết quả giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đối với đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị T.
Ngày 07/02/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang có Công văn số 24/TA gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và ngày 14/02/2020, Tòa án có Công văn số 21/TA-KDTM gửi Công an tỉnh B đề nghị xem xét dấu hiệu của vụ án hình sự. Ngày 4/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có Công văn số 55/TB-CSHS-Đ4 có nội dung: Căn cứ kết quả điều tra chưa có căn cứ vững chắc để ra Quyết định khởi tố hay Quyết định không khởi tố đối với kiến nghị này. Căn cứ Điều 36 và điểm a, khoản 1, Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngày 4/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết kiến nghị khởi tố của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Ngày 02/02/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B đã có Quyết định không khởi tố vụ án số 09/QĐ-CSHS.
Ngày 01/3/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 01/2020/QĐ-ST ngày 01/3/2021. Tòa án thông báo mở lại phiên tòa vào ngày 30/6/2021. Trước khi mở phiên tòa ngày 30/6/2021, ông Nguyễn Văn D1 là người đại diện theo pháp luật của bị đơn và bà Nguyễn Thị T tiếp tục có đơn khiếu nại đề nghị Công an tỉnh B khởi tố hình sự đối với hành vi tẩy xóa tại Hợp đồng tín dụng. Ngày 7/5/2021, Tòa án có Công văn số 592/TA gửi Giám đốc Công an tỉnh B đề nghị xem xét khởi tố vụ án hình sự theo quy định pháp luật. Ngày 19/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có Công văn số 55/TB-CSHS-Đ4 gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang có nội dung: Ngày 02/02/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Quyết định không khởi tố vụ án số 09/QĐ-CSHS. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét đối với Kiến nghị của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại phiên tòa sơ thẳm ngày 30/6/2021, xét thấy cần chờ kết quả giải quyết khiếu nại của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị T và khiếu nại của Luật sư Dương Minh K1 (là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T) đối với Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm số 10/TB-CSHS ngày 02/02/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2021/QÐST-KDTM.
Ngày 10/8/2022, Tòa án tiếp tục có Công văn số 763/TA-DS gửi Công an tỉnh B và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B có nội dung: “Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị T và khiếu nại của Luật sư Dương Minh K1 (là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T). Trong trường hợp Giám đốc Công an tỉnh B và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B không giải quyết khiếu nại thì đề nghị gửi văn bản cho Tòa án nêu rõ quan điểm”.
Do Công an tỉnh B và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B không có văn bản phản hồi cho Tòa án. Ngày 22/8/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 02/2022/QĐ-ST và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 116/2022 để đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vào ngày 12/9/2022. Ngày 12/9/2022, do một số đương sự vắng mặt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có Quyết định hoãn phiên tòa, vụ án được ấn định xét xử vào ngày 29/9/2022.
Tại Bản kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2022/KDTM-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định:
Căn cứ các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 342, 343, 344, 347, 355, 715, 721 Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là các Điều 299, 463, 464, 465, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015); khoản 2, Điều 107 Luật đất đai năm 2003 (nay là khoản 2, Điều 170 Luật đất đai năm 2013); khoản 1, Điều 30; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; Điều 147; Điều 154, Điều 157; Điều 158; khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 3, Điều 474; điểm b, khoản 5, Điều 477; khoản 2 và khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
- Buộc Công ty TNHH T3 phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 29/9/2022 là: 6.206.962.179 đồng (sáu tỷ hai trăm linh sáu triệu, chín trăm sáu mươi hai ngàn, một trăm bảy mươi chín đồng chẵn). Trong đó tiền gốc là: 1.498.020.000 đồng; tiền lãi là: 4.708.942.179 đồng (tiền lãi trong hạn là: 443.357.919 đồng, tiền lãi quá hạn là: 4.265.584.260 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/9/2022) người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp Công ty TNHH T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng N. Ngân hàng N có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thực hiện phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản của bên thứ ba số 20110305ª, ngày 10/03/2011, được giao kết giữa bên thế chấp là ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị T với bên được bảo đảm là Công ty TNHH T3 và bên nhận thế chấp là Ngân hàng thương mại cổ phần N - Chi nhánh thành phổ Bắc Giang, (nay là Ngân hàng N - Chi nhánh B). Tài sản thế chấp là giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất của ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T bao gồm: Quyền sử dụng của thửa đất số 59, tờ bản đồ số 01, có diện tích 164,2m² có địa chỉ tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tài sản trên đất là nhà ở 3 tầng có diện tích khoảng 360m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AN991057, số vào sổ cấp GCNQSD đất: H00797/QĐ số 7684/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 30/12/2008, mang tên ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị T.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí ủy thác tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/10/2022, bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm.
Ngày 26/10/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các bên đương sự giữ nguyên quan điểm đã trình bày và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà T: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà T; áp dụng thời hiệu đối với hợp đồng tín dụng; hủy bản án sơ thẩm. Kiến nghị khởi tố vụ án hình sự vì có dấu hiệu giả mạo trong công tác của cán bộ ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Kháng cáo của bị đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1]. Ngân hàng N khởi kiện Công ty TNHH T3 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, do đương sự là ông Q và chị Lan A ở nước ngoài, ông Q, chị Lan A đi nước ngoài trước thời điểm Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý vụ án nên ngày 07/11/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết sơ thẩm theo thẩm quyền là phù hợp quy định tại Điều 30; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty T3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, HĐXX thấy:
[2]. Ngày 14/10/2010, Công ty T3 do ông Nguyễn Văn D1 - Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty và Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B, nay là Ngân hàng N Chi nhánh B ký kết Hợp đồng tín dụng 2501LAV201001953/HĐTD ngày 14/10/2010, số tiền vay là 8.000.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ gốc là 14/10/2011, lãi suất là 14%/ năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, đến ngày 14/10/2011 Công ty T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng về thời hạn trả nợ tiền gốc và tiền lãi. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu Công ty thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng, nhưng Công ty T3 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Công ty T3 đã vi phạm các điểm c, d, e mục 11.2 của Hợp đồng tín dụng mà Công ty T3 đã giao kết với Ngân hàng. Mặc dù, ông Nguyễn Văn D1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty cho rằng: Khi ký kết Hợp đồng tín dụng thì ông D1 không đọc nội dung của Hợp đồng tín dụng và Công Ty T3 không được sử dụng số tiền vay vì Ngân hàng đã chuyển khoản số tiền vay (theo các Giấy nhận nợ mà ông D1 đã ký với Ngân hàng) cho Công ty Đ4 Tuy nhiên, do ông Nguyễn Văn D1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty đã tham gia giao kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Ông D1 là người có đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật dân sự. Mặt khác, giao kết Hợp đồng tín dụng của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Ông D1 đã thừa nhận chữ ký của mình trong Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ. Theo Hợp đồng tín dụng đã thể hiện, mục đích vay tiền của Công ty T3 tại Ngân hàng là để kinh doanh. Để nhận được tiền vay của Ngân hàng, ông D1 đã có Văn bản ủy nhiệm chi đề nghị Ngân hàng chuyển tiền vay vào tài khoản của Công ty Đ5 thực hiện Hợp đồng mua bán hàng hóa mà Công ty T3 và Công ty Đ đã giao kết. Nên ông D1 cho rằng ông D1 không được biết các nội dung của Hợp đồng tín dụng và Công ty T3 không được sử dụng số tiền vay của Ngân hàng, nhưng không xuất trình được các chứng cứ để chứng minh do vậy không có cơ sở xem xét lời trình bày của ông D1 là có căn cứ.
[3]. Về yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với Hợp đồng tín dụng, theo các điều khoản ghi trong Hợp đồng tín dụng đã nêu rõ: Bên vay phải có kế hoạch trả nợ cho Ngân hàng tiền gốc, nếu bên vay không trả nợ đúng thời hạn thì toàn bộ dư nợ gốc của Hợp đồng này là dư nợ quá hạn, bên vay phải chịu lãi suất quá hạn đối với dư nợ gốc mà khách hàng không trả đúng hạn. Do đó nghĩa vụ trả nợ tiền gốc và tiền lãi của Công Ty T3 đối với Ngân hàng chỉ chấm dứt khi Công Ty T3 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Việc đề nghị áp dụng thời hiệu đối với Hợp đồng tín dụng là không có căn cứ chấp nhận.
[4]. Do Công ty T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 10 của Hợp đồng tín dụng và các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 464, 465, 466 Bộ luật Dân sự 2015 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc Công ty T3 phải trả Ngân hàng tổng số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 29/9/2022 là: 6.206.962.179 đồng. Trong đó tiền gốc là: 1.498.020.000 đồng, tiền lãi là: 4.708.942.179 đồng, (tiền lãi trong hạn là: 443.357.919 đồng, tiền lãi quá hạn là: 4.265.584.260 đồng) là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; các đương sự cũng không kháng cáo về mặt số học của số tiền gốc và lãi.
[5]. Ngày 10/3/2011, ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20110305A với Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B, nay là Ngân hàng N - Chi nhánh B, để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T3 tại Ngân hàng. Theo Hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp là giá trị của quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T gồm: Đất ở có diện tích 164,2m² tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo GCNQSD đất số phát hành AN991057, số vào sổ cấp GCNQSD đất: H00797/QĐ số 7684/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 30/12/2008 mang tên ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T. Tài sản trên đất là ngôi nhà 3 tầng diện tích khoảng 360m².
Tại thời điểm các bên giao kết Hợp đồng thế chấp tài sản là ngày 10/3/2011 thì Nghị định số: 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ hướng dẫn việc đăng ký giao dịch bảo đảm đang có hiệu lực pháp luật. Tại Điều 47 của Nghị định số: 83/2010/NĐ-CP đã quy định Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm gồm:
- 1. Cục H2 trực thuộc Bộ G1 thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về cầm cổ tàu bay, thế chấp tàu bay.
- 2. Chỉ cục H3 hoặc Càng vụ hàng hải thuộc Cục H3 trực thuộc Bộ G1 thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về thế chấp tàu biển.
- 3. Văn phòng đăng kỷ quyền sử dụng đất thuộc Sở T4 và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng T5, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
- 4. Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đ6 thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển và các tài sản khác không thuộc thẩm quyền đăng ký của các cơ quan quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này”.
Tại Điều 5 của Thông tư liên tịch của Bộ Tư pháp; Bộ T6 số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18/11/2011 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất như sau:
“Điều 5. Thẩm quyền đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất:
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở T4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Văn phòng đăng kỷ quyền sử dụng đất cấp tỉnh) nơi có đất, tài sản gắn liền với đất thực hiện đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của tổ chức trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài.
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng T5, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất, tài sản gắn liền với đất hoặc Phòng T5, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp chưa thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện) thực hiện đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”.
Theo Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện L cho Tòa án biết thì Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện L được thành lập từ năm 2015. Đến năm 2018, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện L được đổi tên thành Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L. Theo quy định đã được viện dẫn ở trên thì Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L thực hiện việc đăng ký thế chấp tài sản của vợ chồng bà T là không trái thẩm quyền. Đối với đơn yêu cầu đăng ký thế chấp: Tại khoản 2, Điều 1 của Thông tư liên tịch số: 06/2010/TTLT-BTP-BTNMT, của Bộ tư pháp, Bộ T6 ngày 01/3/2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2010 đến ngày 15/01/2012) thì: “Đơn yêu cầu đăng ký phải có đầy đủ chữ ký, con dấu của tổ chức, cá nhân là các bên ký kết hợp đồng thế chấp”. Mặc dù Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp chỉ có chữ ký của vợ chồng bà T, ông Q là bên thế chấp và chữ ký của người đại diện của Ngân hàng là bên nhận thế chấp mà không có chữ của người đại diện của Công ty T3 là bên vay (được vợ chồng bà T, ông Q thực hiện nghĩa vụ bảo đàm). Tuy nhiên nội dung này không làm ảnh hưởng đến tính hợp pháp của Hợp đồng thế chấp tài sản. Bởi lẽ, vợ chồng bà T, ông Q; người đại diện của Ngân hàng và người đại diện của Công ty T3 đã thực hiện việc giao kết Hợp đồng thế chấp tài sản. Đồng nghĩa với việc Công ty T3 đồng ý dùng tài sản đảm bảo của bên thứ ba để vay tiền của Ngân hàng. Như vậy, Hợp đồng thế chấp tài sản đã được công chứng, đăng ký thế chấp tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Luật Đất đai năm 2003; Điều 715 và Điều 721 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tại thời điểm các bên giao kết Hợp đồng). Theo Hợp đồng thế chấp tài sản do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án có nội dung mô tả tài sản thế chấp là nhà gác 3 tầng còn Hợp đồng thế chấp tài sàn do Văn phòng Công chứng cung cấp cho Tòa án có nội dung mô tả tài sản thế chấp là nhà gác 4,5 tầng.
Theo Kết luận giám định số 1984/KLGĐ-KTHS ngày 16/12/2019 của Phòng K2, Công an tỉnh B đã nêu:
- Dòng chữ “Nhà gác 3 tầng dt 360m²” tại mục “ 3.2.3 Mô tả tài sản thế chấp” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án) bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế.
- Dòng chữ “3 tầng, diện tích” tại mục “ Điều 1. Tài sản thế chấp - 1.1. Bên B là chủ sở hữu hợp pháp các tài sản sau đây - Mô tả tài sản thế chấp” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2 do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án) bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế.
- Chữ số “3” trong dòng chữ “ Nhà gác 3 tầng” tại cột “Tên tài sản”; chữ số “360” tại cột “Số lượng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3 do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án) bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế.
Như vậy theo Kết luận giám định thì: Chữ số “3” trong dòng chữ “Nhà gác 3 tầng” tại cột “Tên tài sản”; chữ số “360” tại cột “Số lượng” trên các tài liệu của Hợp đồng thế chấp tài sản do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án đã bị tẩy xóa, in nội dung khác thay thế.
Nhưng theo kết quả thẩm định của Tòa án ngày 08/11/2019 đã thể hiện tài sản thế chấp là: Thửa đất số 59, tờ bản đồ số 01 có diện tích là 164,2m² tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện L cấp GCNQSD đất mang tên ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên hiện trạng. Các tài sản trên đất có ngôi nhà 03 tầng kiên cố, mặt tiền 8,1m; chiều sâu khoảng 10m, diện tích khoảng 120m²/sàn. Tài sản thế chấp mà chồng bà T, ông Q đã bảo lãnh cho khoản vay của Công ty T3 tại Ngân hàng gồm quyền sử dụng đất và tài sản thực tế trên đất là ngôi nhà 3 tầng. Việc các bên đã mô tả tài sản trên đất là ngôi nhà 4,5 tầng trong Hợp đồng thế chấp tài sản còn lưu tại Phòng Công chứng là không đúng thực tế. Do vậy, Hợp đồng thế chấp tài sản do Ngân hàng cung cấp cho Tòa án có việc sửa chữa nội dung mô tả tài sản thế chấp là ngôi nhà 3 tầng. Nhưng việc sửa chữa này hoàn toàn phù hợp với thực tế. Trên thực tế thì ngôi nhà của vợ chồng ông Q, bà T chỉ là “nhà 3 tầng”. Nay, Ngân hàng cũng chỉ xác định tài sản thế chấp của vợ chồng ông Q, bà T là ngôi nhà 3 tầng. Vì vậy, việc cá nhân, tổ chức có hành vi sửa chữa các nội dung mô tả tài sản thế chấp từ “ngôi nhà 4,5 tầng” thành “ngôi nhà 3 tầng” không làm ảnh hưởng đến yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của Hợp đồng thế chấp tài sản mà vợ chồng ông Q, bà T đã giao kết với Ngân hàng.
[6]. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 02/02/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B đã có Quyết định không khởi tố vụ án số 09/QĐ-CSHS và không xem xét đối với Kiến nghị của Tòa án tỉnh Bắc Giang; Như vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B đã không chấp nhận yêu cầu khởi tố hình sự của bà T và Luật sư Dương Minh K1 về hành vi tẩy xóa các nội dung ghi trong Hợp đồng thế chấp tài sản (do Ngân hàng đã cung cấp cho Tòa án). Ngay sau đó bà T và Luật sư K1 có rất nhiều đơn khiếu nại đối với Quyết định không khởi tố vụ án số 09/QĐ-CSHS. Tuy nhiên từ đó đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B vẫn không thụ lý giải quyết. Tại Điều 475 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Trong hạn 7 ngày thì Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B phải giải quyết khiếu nại kể từ ngày nhận được khiếu nại”. Như vậy, kể từ ngày bà T và Luật sư K1 có đơn khiếu nại đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B đến thời điểm xét xử sơ thẩm cũng đã quá thời hạn 7 ngày nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B vẫn không thụ lý giải quyết khiếu nại là không đúng quy định tại Điều 475 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngày 10/8/2022, Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục có Công văn số 763/TA-DS gửi Giám đốc Công an tỉnh B và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị T và giải quyết khiếu nại của Luật sư Dương Minh K1 (là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T). Nhưng đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B không có văn bản phản hồi cho Tòa án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục đưa vụ án ra xét xử là có căn cứ, để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, phù hợp với quy định pháp luật.
[7]. Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 10/3/2011 được các bên giao kết là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Hợp đồng đã được công chứng chứng thực tại Văn phòng Công chứng và đăng ký tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đối tượng thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là ngôi nhà 03 tầng của vợ chồng T, ông Q, đất đã được cấp GCNQSD đất mang tên ông Q và bà T. Tại thời điểm giao kết Hợp đồng, quyền sử dụng đất không bị hạn chế bởi quyết định kê biên của Cơ quan Thi hành án; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, đất không có tranh chấp. Phạm vi bảo lãnh của tài sản thế chấp của vợ chồng ông Q, bà T ghi trong Hợp đồng thế chấp là bảo đảm cho số tiền vay của Công ty T3 không vượt quá số tiền 1.500.000.000 đồng. Hiện nay dư nợ gốc của Công ty T3 tại Ngân hàng là 1.498.020.000 đồng là không vượt quá phạm vi bảo lãnh của tài sản thế chấp. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về nội dung: Trường hợp Công ty T3 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền phát mại tài sản thế chấp của ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị T theo Hợp đồng thế chấp tài sản giữa các bên để thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[8]. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, HĐXX không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Công ty T3 và bà Nguyễn Thị T, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa.
[9]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty T3 và bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là Công ty TNHH T3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T; Giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2022/KDTM-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Công ty TNHH T3 và bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm; được đối trừ với số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi người đã nộp lần lượt theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000747 ngày 05/12/2022 và số 0000744 ngày 01/12/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận Công ty TNHH T3 và bà Nguyễn Thị T đã thi hành xong án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm.
- Về chi phí ủy thác tư pháp: Ngân hàng N phải chịu 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, được đối trừ với số tiền 200.000 đồng tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000049 ngày 04/4/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận Ngân hàng N đã thi hành xong chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 20/2024/KDTM-PT ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
