Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày 23 - 5 - 2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Ngọc Lan

Bà Phạm Bích Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 16/11/1988, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1957 và bà Vi Thị D, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân:

Bản án hình sự sơ thẩm số 33 ngày 08/8/2014, Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (ra trại ngày 22/4/2019, thi hành xong án phí tháng 10/2014).

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 08/5/2020 UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt 3.000.000 đồng (Đã chấp hành xong ngày 10/5/2020).

Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số A ngày 09/8/2021 UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Đã chấp hành xong ngày 09/11/2021).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh P. Có mặt.

2. Lê Huy T, sinh ngày 26/8/1965, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê T1 (đã chết) và bà Vi Thị C, sinh năm 1933; Vợ: Chu Thị L, sinh năm: 1974; Con: Có 01 con (sinh năm 2004); Tiền án: Không;

Tiền sự:

Quyết định xử phạt hành chính số 03 ngày 15/8/2022 Công an thị xã P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng, (Cơ quan Công an có đôn đốc nhưng T chưa thi hành).

Quyết định xử phạt hành chính số 04 ngày 09/9/2022 Công an thị xã P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 2.000.000 đồng (Cơ quan Công an có đôn đốc nhưng T chưa thi hành).

Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 03ngày 15/9/2022 UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong Quyết định ngày 22/12/2022.

Nhân thân:

Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 03 ngày 25/6/2018, TAND thị xã Phú Thọ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong Quyết định ngày 12/10/2019.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 03/01/2024, đến ngày 12/01/2024, Hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Vi Thị D1, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.

Anh Lưu Văn L1, sinh năm 1992, địa chỉ: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.

Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu D, xã H, thị xã P; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 10 phút, ngày 03/01/2024, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ M thuộc khu T, phường T, thị xã P tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - ma túy Công an thị xã P kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1988, nơi thường trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ có 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, loại vỏ cứng bên trong vỏ bao thuốc có 01 gói nilon có chứa 01 gói giấy mặt ngoài màu hồng có dòng kẻ và có chữ in, mặt trong gói giấy có màu hồng, bên trong gói giấy có chứa chất bột, cục màu trắng. S khai nhận chất bột, cục màu trắng là ma túy H1, S tàng trữ với mục đích để bán cho Nguyễn Đức V, sinh năm 1989, nơi thường trú: Khu D, xã H, thị xã P kiếm lời. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của S: 02 xi lanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc chưa qua sử dụng; 02 ống NOVOCAIN; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, đã cũ, số Sêri: 357683101180612, có gắn sim số 0948802238; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, Biển kiểm soát: 16M9 – 6582; số tiền 300.000 đồng. Tổ Công tác đã niêm phong gói giấy có chứa chất bột, cục màu trắng thu giữ của S để phục vụ công tác giám định.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc S khai nhận: Khoảng gần 14 giờ ngày 03/01/2024 S dùng số điện thoại 0948.802.xxx gọi đến số điện thoại 0788.043.xxx của Lê Huy T, sinh năm 1965, trú tại khu A, xã V, thị xã P hỏi mua của T 300.000 đồng ma túy Heroine, T đồng ý. S đi xe máy một mình xuống nhà T và đưa cho T 300.000 đồng, T cầm tiền rồi bảo S ra đợi T ở khu vực gốc đa thuộc khu A, xã Đ, huyện T. Sau đó S đến chỗ hẹn đứng đợi T, một lúc sau T đi ra gặp S và đưa cho S 01 gói ma túy Heroine có đặc điểm là 01 gói giấy màu hồng có dòng kẻ và chữ in. Sau khi mua được ma túy S đi mua 03 xi lanh nhựa và 03 ống NOVOCAIN rồi lấy gói ma túy vừa mua được của T lấy một ít ma túy để sử dụng cho bản thân bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong S gói số ma túy còn lại như cũ rồi cất vào trong vỏ bảo thuốc lá Thăng L2 và cất giữ trong người. Trên đường đi thị xã P có việc thì Nguyễn Đức V đã gọi điện thoại hỏi mua 150.000 đồng ma túy Heroine, S đồng ý bán ma túy cho V và hẹn V đợi S ở khu vực cây xăng gần ngã ba phường T, thị xã P, khi nào S về đến đó S sẽ bán ma túy cho V, tuy nhiên trên đường mang ma túy bán cho V thì S bị Công an thị xã P kiểm tra, phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Ngọc S, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã P triệu tập Nguyễn Đức V đến làm việc. Quá trình làm việc lấy lời khai của V, tiến hành đối chất giữa V với S thì V thừa nhận ngày 03/01/2024 có liên hệ mua của S ma tuý Heroin với giá 150.000 đồng. V đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 150.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 860936061393348/52, có gắn sim số: 0326251479 và số 0962327689.

3

Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã P đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc S, tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Lê Huy T, tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét chỗ ở của S không phát hiện và thu giữ gì; Khám xét chỗ ở của T thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, đã qua sử dụng có gắn 01 thẻ sim số 0788043601; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng, điện thoại không gắn sim; 01 khối hình trụ tròn có đường kính khoảng 10cm, chiều cao khoảng 10cm, được cuốn bên ngoài bằng nilon màu trắng, bên trong có 96 hình trụ tròn nhỏ đều được cuốn bên ngoài bằng giấy màu trắng, mỗi hình trụ tròn đều có đường kính khoảng 1cm, chiều cao khoảng 4cm,một đầu của mỗi hình trụ tròn nhỏ được bịt kín, một đầu có dây nilon màu trắng, bên trong giây nilon màu trắng có bột màu trắng, 96 hình trụ tròn nhỏ đều được kết nối với nhau thành một khối; 24 hình trụ tròn nhỏ đều được cuốn bên ngoài bằng giấy màu trắng, mỗi hình trụ tròn đều có đường kính khoảng 1cm, chiều cao khoảng 4cm,một đầu của mỗi hình trụ tròn nhỏ được bịt kín, một đầu có dây nilon màu trắng, bên trong giây nilon màu trắng có bột màu trắng; 74 đoạn dây đều được cuốn bằng nilon màu trắng, mỗi dây đều dài khoảng 4cm, bên trong mỗi dây đều có chứa chất bột màu trắng; 03 túi nilon đều có màu trắng hồng, trên thân túi điều có in nhiều hình, chữ nước ngoài và chữ Việt Nam trong đó có chữ “MASK”, miệng túi nilon đều được dán kín bằng băng dính, bên trong cả 03 túi nilon đều có chứa chất bột màu trắng. (Bên ngoài được dánh dấu “Túi số 01”, “Túi số 02”, “Túi số 03”); 01 túi nilon màu trắng, ở đầu được buộc kín bằng dây chun màu vàng, bên trong túi nilon có chứa chất bột màu trắng (Bên ngoài được đánh dấu “Túi số 04”); 01 túi nilon màu trắng, ở đầu được buộc kín bằng dây chun màu vàng, bên trong túi nilon có chứa chất bột màu vàng (Bên ngoài được đánh dấu “Túi số 05”); 01 túi nilon màu trắng, ở đầu được buộc kín bằng dây chun màu vàng, bên trong túi nilon có chứa chất bột màu trắng (Bên ngoài được đánh dấu “Túi số 06”); 01 túi nilon màu trắng, ở đầu được buộc kín bằng dây chun màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu đen (Bên ngoài được đánh dấu “Túi số 07”); 01 túi nilon màu trắng, ở đầu được buộc kín bằng dây chun màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu xám (Bên ngoài được đánh dấu “số 08”).

Ngày 03/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thị xã P đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định chất bột, cục thu giữ của Nguyễn Ngọc S và thu giữ mẫu vật khi khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Lê Huy T.

Tại bản kết luận giám định số 32/KL-KTHS ngày 06 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận mẫu vật thu giữ của Nguyễn Ngọc S:

“Chất bột cục màu trắng bên trong 01 gói giấy mặt ngoài màu hồng có dòng kẻ và chữ in, mặt trong gói giấy có màu hồng thu giữ của Nguyễn Ngọc S gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,078 gam, loại Heroine (H).

4

* H1 (Heroine) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi,bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

H2 lại đối tượng giám định: 0,053gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong có mã số PS3A 068573 bên ngoài bì giấy có 03 chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói niêm phong và 03 dấu hình tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh P tại các mép dán.”

Tại bản kết luận giám định số 34/KL-KTHS ngày 07 tháng 01 năm 2024 của phòng K - Công an tỉnh P kết luận mẫu vật thu giữ khi khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Lê Huy T:

“ 96 vật hình trụ tròn đều được cuốn bằng giấy màu trắng, được kết nối với nhau bằng 01 dây dẫn màu trắng ở giữa tạo thành 01 tràng và 24 vật trụ tròn, đều được cuốn bằng giấy màu trắng gửi đến giám định đều là pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng nổ). Tổng khối lượng mẫu vật gửi giám định là 0,8kg (Không phảy tám kilôgam).

74 đoạn dây dẫn có kích thước không đều nhau, đoạn dài nhất có chiều dài là 7cm, đoạn ngắn nhất có chiều dài là 5cm được cuốn bằng nilon màu trắng, bên trong mỗi dây đều có chứa chất bột màu trắng là dây ngòi pháo.

Các chất bột màu trắng, vàng, đen chứa trong các túi nilon được đánh dấu “Túi số 01”; “Túi số 02”; “Túi số 03”; “Túi số 04”; “Túi số 05”; “Túi số 06”; “Túi số 07”; “Túi số 08”; là các chất trong thành phần của thuốc pháo. Tổng khối lượng mẫu vật gửi đến giám định là 3,316 kg.

* Pháo nổ được quy định tại Chương I, điều 3, khoản 1, điểm a của Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng pháo.

Trả lại: 2,864 kg(Hai phẩy tám sáu bốn kilôgam) các chất bột màu trắng, vàng, đen và 70 dây ngòi pháo cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói được niêm phong dán kín trong 01 hình chữ nhật có kích thước 20cm x 28cm x26,5 cm, bên ngoài hộp bìa cát tông được dán kín bằng băng dính màu trắng và 02 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 dấu hình tròn màu đỏ của phòng K - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói niêm phong.”

Tại Cơ quan điều tra, Lê Huy T đã thừa nhận ngày 03/01/2024 bán 01 gói ma túy Heroine cho S phù hợp với lời khai của S và với những vật chứng đã thu giữ được.

Đối với nguồn gốc ma túy bán cho S ngày 03/01/2024,T khai nhận: Sau khi cầm của S 300.000 đồng,T đã dùng số điện thoại 0788.043.xxx gọi vào số 0978637204

5

của Lê Quang T2, sinh năm 1974, nhà ở xã H, thị xã P hỏi mua ma túy nhưng T2 không nghe máy, T dùng tài khoản Zalo của T là “Lê Huy T” gọi cho tài khoản Zalo của T2 là “T”, T hỏi mua của T2 300.000 đồng tiền ma túy Heroine, T2 đồng ý và hẹn T ra khu vực bãi rác gần gầm cầu vượt mỏ địa chất thuộc xã H, thị xã P. Sau đó T đi một mình ra điểm hẹn và đứng đợi ở đó được một lúc thì T2 đến. T đã đưa cho T2 300.000 đồng, T2 cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 gói ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy T đã lấy gói ma túy vừa mua được ra rồi sẻ một phần ma túy sang một mảnh giấy bạc và sử dụng cho bản thân bằng cách hút qua đường hô hấp vào cơ thể, số ma túy còn lại T gói lại như cũ, do T sử dụng chưa hết số ma túy trên nên gói phần ma túy (heroine) còn lại vào mảnh giấy bạc đem về nhà để sử dụng. Sau đó T đi ra điểm hẹn gặp S đưa ma túy cho S xong T về nhà và sử dụng nốt số ma túy lúc trước T chưa sử dụng hết.

Ngày 04/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã xác minh tại Công an xã H, thị xã P tuy nhiên không có ai tên là Lê Quang T2, sinh năm 1974 đang cư trú trên địa bàn xã H, thị xã P mà chỉ xác định được gia đình ông Lê Hữu Q ở khu D, xã H, thị xã P cũng có con trai tên là Lê Quang T2, sinh năm 1974 nhưng đang có tạm trú tại thị trấn X, huyện C, Tp . Hà Nội. T2 là kỹ sư địa chất và hiện không có mặt tại địa phương.

Ngày 05/01/2024, Công an thị xã P đã bắt quả tang Lê Quang T2, sinh năm 1974, nơi tạm trú: thị trấn X, huyện C, Tp.Hà Nội về hành vi tàng trữ trái phép 1,211 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Xác định T2 có đặc điểm giống với người đàn ông Lê Huy T đã khai báo bán ma túy cho T ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT đã tiến hành ghi lời khai đối với T2. Tại Cơ quan điều tra T2 khai nhận bản thân T2 có quen biết với Lê Huy T vì trước đây là đồng nghiệp với nhau tại Liên đoàn địa chất T5 tuy nhiên T2 không thừa nhận việc đã bán ma túy cho T như T đã khai báo. Ngoài lời khai của T Cơ quan điều tra không thu thập được thêm tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh việc T2 bán ma túy cho T nên không có căn cứ xử lý đối với T2. Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Quang T2 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bằng một vụ án khác.

Đối với hành vi tàng trữ 0,8kg pháo nổ, 74 đoạn dây ngòi pháo và 3,316 kg thành phần thuốc pháo. Ngày 23/01/2024, Chủ tịch UBND thị xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Huy T về hành vi Tàng trữ trái phép pháo và nguyên liệu, phụ kiện để sản xuất pháo hình thức phạt tiền: 15.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Ngọc S, Lê Huy T và Nguyễn Đức V, kết quả cả S, T, V đều dương tính với ma túy Heroine, ngày 29/01/2024, Cơ quan công an thị xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S, T, V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hình thức phạt tiền: mức phạt 1.500.000 đồng mỗi người là phù hợp.

Về nguyên nhân, động cơ, mục đích, điều kiện phạm tội: Các bị can đều là

6

những người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bản thân các bị can đều bị nghiện ma túy, do ý thức tuân thủ pháp luật kém, đã thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm hưởng lợi ích vật chất, có được ma túy để sử dụng cho bản thân nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội bị cơ quan công an phát hiện, bắt giữ.

Cáo trạng số 24/CT-VKSTXPT ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Huy T về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi:

Ngày 03/01/2024, tại khu vực gốc đa thuộc Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Lê Huy T đã bán trái phép 01 gói ma túy Heroine cho Nguyễn Ngọc S với giá 300.000 đồng. Qua việc mua, bán trái phép chất ma túy (không xác định được khối lượng) T, S đều được hưởng lợi ma túy H3 sử dụng cho bản thân. Cùng ngày 03/01/2024 tại khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ Nguyễn Ngọc S có hành vi bán trái phép 0,078 gam ma túy Heroine cho Nguyễn Đức V với giá 150.000 đồng; tuy nhiên trên đường đem ma túy đến điểm hẹn để bán cho V thì S bị cơ quan điều tra công an thị xã P phát hiện, thu giữ.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Lê Huy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S; Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 30 tháng đến 33 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Huy T; Xử phạt bị cáo Lê Huy T từ 30 tháng đến 33 tháng tù, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ kể từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Huy T.

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho chị Vi Thị D1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, Biển kiểm soát: 16M9 – 6582 thu giữ của Nguyễn Ngọc S (do Nguyễn Ngọc S mượn của Lưu Văn L1, Lưu Văn L1 mượn của Vi Thị D1).

Tịch thu để tiêu hủy: 0,053 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi giấy niêm phong mã số 068573 của Phòng K Công an tỉnh P; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng loại

7

vỏ cứng S dùng gói ma túy để cất giữ; 02 xi lanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc chưa qua sử dụng và 02 ống NOVOCAIN của S mua để sử dụng ma túy; sim số 0948802238 thu giữ của S; sim số 0788043601 thu giữ của T; sim số 0326251479 và sim số 0962327689 thu giữ của Nguyễn Đức V.

Tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, đã cũ, số Sêri: 357683101180612 thu giữ của S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, đã cũ, số IMEI: 054986073455265 thu giữ của T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 860936061393348/52, thu giữ của Nguyễn Đức V.

Trả lại cho Nguyễn Ngọc S 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã thu giữ của Nguyễn Ngọc S do lao động mà có.

Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Đức V là tiền Nguyễn Đức V dùng để mua ma túy của Nguyễn Ngọc S.

Truy thu 300.000 đồng của Lê Huy T do bán trái phép cho Nguyễn Ngọc S mà có để sung vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở xác định:

Ngày 03/01/2024, tại khu vực gốc đa thuộc Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Lê Huy T đã bán trái phép 01 gói ma túy Heroine cho Nguyễn Ngọc S với giá 300.000 đồng. Qua việc mua, bán trái phép chất ma túy (không xác định được khối lượng) T, S đều được hưởng lợi ma túy H3 sử dụng cho bản thân. Cùng ngày 03/01/2024 tại khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ Nguyễn Ngọc S có hành vi bán trái phép 0,078 gam ma túy Heroine cho Nguyễn Đức V với giá 150.000 đồng; tuy

nhiên trên đường đem ma túy đến điểm hẹn để bán cho V thì S bị cơ quan điều tra công an thị xã P phát hiện, thu giữ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

Vì vậy có cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các bị cáo không có tiền án, bị cáo S có nhân thân, bị cáo T có tiền sự và nhân thân như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Huy T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự vì có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì là người có công với cách mạng.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với các tình tiết nêu trên, áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt đối với các bị cáo, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ trong một thời gian, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo S không có tài sản riêng gì có giá trị, nghề nghiệp không ổn định. Bị cáo T có nhà, đất diện tích nhỏ, nguồn gốc do bố đẻ của T chuyển nhượng cho T. T đang sinh sống cùng mẹ già, vợ và các con trên mảnh đất này. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[3] Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ, kết quả điều tra xác định:

Đối với 96 vật hình trụ tròn đều được cuốn bằng giấy màu trắng, được kết nối với nhau bằng 01 dây dẫn màu trắng ở giữa tạo thành 01 trang 24 vật trụ tròn, đều được cuốn bằng giấy màu trắng có tổng khối lượng mẫu vật gửi giám định là 0,8kg; 74 đoạn dây dẫn có kích thước không đều nhau, đoạn dài nhất có chiều dài là 7cm, đoạn ngắn nhất có chiều dài là 5cm được cuốn bằng nilon màu trắng, bên trong mỗi dây đều có chứa chất bột màu trắng; các chất bột màu trắng, vàng, đen chứa trong

9

các túi nilon được đánh dấu “Túi số 01”; “Túi số 02”; “Túi số 03”; “Túi số 04”; “Túi số 05”; “Túi số 06”; “Túi số 07”; “Túi số 08”; có tổng khối lượng là 3,316 kg thu giữ khi khám xét người và chỗ ở T cất giữ để sử dụng vào dịp tết nguyên đán. Công an thị xã P đã tiến hành tiêu hủy là đúng quy định của Pháp luật nên không phải xử lý gì nữa.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng, thu giữ trong quá trình khám xét nhà T điện thoại không gắn sim là của Lê Toàn T3, sinh năm 2004, nơi thường trú: Khu A, xã V, thị xã P (là con trai T) không liên quan đến việc vi phạm pháp luật của T nên ngày 12/01/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Toàn T3 là phù hợp với pháp luật nên không phải giải quyết gì nữa.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, Biển kiểm soát: 16M9 – 6582 thu giữ của Nguyễn Ngọc S đăng ký mang tên Đào Thị T4 ở Số B, khu T, phường C, quạn H, thành Phố Hải Phòng. Năm 2010 chị T4 đã bán cho chị Vi Thị D1, sinh năm 1989, trú tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ với giá 8.000.000 đồng. Ngày 01/01/2024 chị D1 cho Lưu Văn L1, sinh năm 1992, trú tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ mượn, sau đó L1 cho S mượn chiếc xe mô tô này. Chị D1, anh L1 không biết việc S sử dụng xe để đi mua bán trái phép chất ma túy. Chị D1 có yêu cầu trả lại chiếc xe nêu trên, vì vậy trả lại cho chủ sở hữu là chị D1 chiếc xe nêu trên.

Đối với 0,053 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi giấy niêm phong mã số PS3A 068573 của Phòng K Công an tỉnh P hoàn lại sau giám định được tịch thu để tiêu huỷ.

01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng loại vỏ cứng S dùng gói ma túy để cất giữ; 02 xi lanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc chưa qua sử dụng và 02 ống NOVOCAIN S mua để sử dụng ma túy được tịch thu để tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, đã cũ, số Sêri: 357683101180612, có gắn sim số 0948802238 thu giữ của S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, đã cũ, số IMEI: 054986073455265, có gắn sim số 0788043601 thu giữ của T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 860936061393348/52, có gắn sim số: 0326251479 và số 0962327689 thu giữ của Nguyễn Đức V. S, V, T dùng để liên lạc trao đổi mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy tịch thu để bán 03 chiếc điện thoại nêu trên sung vào ngân sách nhà nước và tiêu huỷ các sim nêu trên.

Đối với số tiền 450.000 (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thu giữ của S là tiền S lao động mà có được trả lại cho S; 150.000 đồng thu giữ của V là tiền V dùng để mua ma túy của S được tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước.

Số tiền 300.000 đồng của Lê Huy T bán trái phép cho Nguyễn Ngọc S mà có chưa thu hồi được nên truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

10

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S;

Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Huy T;

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Lê Huy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S.

    Xử phạt bị cáo Lê Huy T 30 (Ba mươi) tháng tù, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ kể từ ngày 03/01/2024 đến ngày 12/01/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Huy T.

  2. Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng:

    Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trả lại cho chị Vi Thị D1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, Biển kiểm soát: 16M9 – 6582 thu giữ của Nguyễn Ngọc S (do Nguyễn Ngọc S mượn của Lưu Văn L1, Lưu Văn L1 mượn của Vi Thị D1).

    Tịch thu để tiêu hủy:

    • 0,053 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi giấy niêm phong mã số 068573 của Phòng K Công an tỉnh P;
    • 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng loại vỏ cứng S dùng gói ma túy để cất giữ; 02 xi lanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc chưa qua sử dụng và 02 ống NOVOCAIN của S mua để sử dụng ma túy;
    • Sim số 0948802238 thu giữ của S; sim số 0788043601 thu giữ của T; sim số 0326251479 và sim số 0962327689 thu giữ của Nguyễn Đức V.
    • Tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, đã cũ, số Sêri: 357683101180612 thu giữ của S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu vàng, đã cũ, số IMEI: 054986073455265 thu

11

giữ của T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 860936061393348/52, thu giữ của Nguyễn Đức V.

Trả lại cho Nguyễn Ngọc S 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã thu giữ của Nguyễn Ngọc S do lao động mà có.

Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Đức V là tiền Nguyễn Đức V dùng để mua ma túy của Nguyễn Ngọc S.

Truy thu 300.000 đồng của Lê Huy T do bán trái phép cho Nguyễn Ngọc S mà có để sung vào ngân sách nhà nước.

(Vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 12/4/2024).

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016.

    Các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Lê Huy T mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; đương sự;
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự; Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
  • - Sở tư pháp tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Chi

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger