|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 20/2024/DS-ST. Ngày: 23-4-2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Huỳnh Sinh
- Ông Trần Hoàng Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 309/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Công ty T1 JACCS.
Địa chỉ trụ sở chính: Lầu 15, tòa nhà C N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông TANIGUCHI NOBORU - Sinh năm 1964; Chức danh: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1984; Chức vụ: Trưởng bộ phận cấp cao Bộ phận Quản lý công nợ Công ty T1 JACCS (theo Giấy ủy quyền số 13/2023/UQ-JIVF ngày 29/5/2023).
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thành T - Chức vụ: Nhân viên Công ty T1 JACCS (theo Giấy ủy quyền số 529/2023/UQ-JIVF ngày 18/10/2023) (Có mặt).
2/ Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc E - Sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Thành T trình bày:
Công ty T1 JACCS (Sau đây gọi tắt là Công ty J) là tổ chức tín dụng phi ngân hàng được Ngân hàng N cấp phép hoạt động.
Ngày 20/9/2022 bà Lê Thị Ngọc E có ký với Công ty J hợp đồng tín dụng số 930380003153211000 để vay tiền mặt với hình thức trả góp hàng tháng.
Theo yêu cầu và căn cứ khả năng thu nhập hàng tháng của bà Lê Thị Ngọc E, Công ty J đã cho bà E vay số tiền 50.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận: Lãi suất là 3,4641%/tháng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn cho vay là 36 tháng; mỗi tháng bà E phải thanh toán cho Công ty J số tiền là 2.463.512 đồng (bao gồm tiền gốc + tiền lãi + phí) vào trước hoặc đúng ngày 22 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng, ngày trả nợ kỳ đầu tiên là ngày 24/10/2022, ngày đến hạn trả nợ cuối kỳ (dự kiến) là ngày 22/09/2025 với số tiền là 2.543.097 đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số 930380003153211000, bà E đã thanh toán cho Công ty J từ ngày 24/10/2022 đến ngày 22/6/2023 được tổng số tiền là 19.709.000 đồng; trong đó: Nợ gốc là 6.547.246 đồng, L là 13.065.754 đồng, L quá hạn là 0 đồng, P quản lý khoản vay là 96.000 đồng. Từ sau ngày 22/6/2023, bà E không thanh toán cho Công ty J bất kỳ khoản tiền nào nữa mặc dù đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần.
Tính đến ngày 23/4/2024 bà Lê Thị Ngọc E còn thiếu nợ Công ty J số tiền là 61.655.773 đồng; Trong đó: Số tiền gốc là 43.452.754 đồng; Số tiền lãi là 16.677.422 đồng; Lãi quá hạn là 1.381.597 đồng, P quản lý khoản vay là 144.000 đồng. Vì vậy, Công ty J đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc bà Lê Thị Ngọc E phải thanh toán cho Công ty J tổng số tiền vay tính đến hết ngày 23/4/2024 là 61.655.773 đồng.
Buộc bà Lê Thị Ngọc E có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 24/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 930380003153211000 ký ngày 20/9/2022.
Bị đơn là bà Lê Thị Ngọc E: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Lê Thị Ngọc E nhưng bà E không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa là đúng theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Công ty J khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Ngọc E phải trả số tiền nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng số 930380003153211000 ngày 20/9/2022. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là bà Lê Thị Ngọc E nhưng bà E không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, bà E vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 20/9/2022, bà Lê Thị Ngọc E có ký với Công ty J Hợp đồng tín dụng; bao gồm: Giấy đề nghị vay kiêm phương án sử dụng vốn, bản các Điều kiện giao dịch chung sản phẩm cho vay của JIVF. Căn cứ nhu cầu và thu nhập của bà E; Công ty J đã giải ngân cho bà E vay số tiền là 50.000.000 đồng. Hợp đồng tín dụng giữa Công ty J và bà Lê Thị Ngọc E được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức của Hợp đồng đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp.
Sau khi ký hợp đồng, bà Lê Thị Ngọc E đã được Công ty J giải ngân đủ số tiền là 50.000.000 đồng. Theo các tài liệu, chứng cứ Công ty J cung cấp thì quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số 930380003153211000, bà E đã thanh toán cho Công ty J từ ngày 24/10/2022 đến ngày 22/6/2023 được tổng số tiền là 19.709.000 đồng. Sau đó bà E không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty J nữa mặc dù đã được Công ty J, nhắc nhở nhiều lần.
Như vậy, có cơ sở khẳng định bà Lê Thị Ngọc E không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng, đã vi phạm Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết; bà E là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
[2.2] Về lãi suất: Các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn là 3.4641%/tháng theo dư nợ giảm dần (Điều 1 của Hợp đồng tín dụng); bà E đã biết và thanh toán tiền gốc và lãi cho Công ty J từ ngày 24/10/2022 đến ngày 22/6/2023 mà không có ý kiến hay khiếu nại gì. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Lê Thị Ngọc E vi phạm hợp đồng nên từ sau ngày 22/6/2023; Công ty J chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn như đã thỏa thuận là phù hợp với Điều 1, Điều 4 của Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 9 Thông tư số 39/VBHN-NHNN ngày 29/11/2019 của Ngân hàng N quy định cho vay tiêu dùng của Công ty tài chính nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về các loại phí liên quan đến Hợp đồng tín dụng: Các bên đã thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của bên vay tại Điều 8 của Hợp đồng tín dụng. Bà Lê Thị Ngọc E phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 1, mục 3.2 Điều 3 của Hợp đồng tín dụng và Biểu phí của bản các Điều kiện giao dịch chung sản phẩm cho vay của JIVF; chi tiết lãi, phí trong các Bản kê. Căn cứ Biểu phí đã được Công ty J niêm yết công khai tại thời điểm ký hợp đồng, đã được thỏa thuận giữa Công ty J và bà Lê Thị Ngọc E là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của Công ty J.
[2.4] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Lê Thị Ngọc E còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 24/4/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong hợp đồng tín dụng của Công ty J. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng (bao gồm: Giấy đề nghị vay kiêm phương án sử dụng vốn, bản các Điều kiện giao dịch chung sản phẩm cho vay của JIVF); phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ các phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Công ty J.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Lê Thị Ngọc E, có nội dung thể hiện Công ty J khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà E phải trả số tiền vay còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, phí phát sinh từ hợp đồng tín dụng nhưng bà E không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công ty J xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà E đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự.
- Các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 JACCS.
- Buộc bà Lê Thị Ngọc E có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T1 JACCS số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930380003153211000 ký kết ngày 20/9/2022, tính đến ngày 23/4/2024 là 61.655.773 đồng; Trong đó: Số tiền gốc là 43.452.754 đồng, Số tiền lãi là 16.677.422 đồng, L quá hạn là 1.381.597 đồng, P quản lý khoản vay là 144.000 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 24/4/2024); bà Lê Thị Ngọc E còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty T1 JACCS.
- Về án phí:
- Bà Lê Thị Ngọc E phải chịu: 3.083.000 đồng (Đã làm tròn) (Ba triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Công ty T1 JACCS không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 1.238.000 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000414 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23-4-2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm; - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
