TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 23 - 4 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thanh Giang;
Ông Trần Hà Bắc.
- Thư ký phiên tòa: Tại điểm cầu trung tâm: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Toà án; tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Văn P - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên; tại điểm cầu thành phần: Bà Lâm Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy và điểm cầu thành phần: Công an huyện G, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn S, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1990, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: ngày 24 tháng 6 năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 36 tháng tù, chấp hành án xong ngày 28 tháng 11 năm 2022; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04 tháng 01 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 13 tháng 01 năm 2024 đến nay; hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2024, Tổ tuần tra của Công an xã H, huyện G, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực cống C thuộc xóm A, xã H phát hiện Trần Văn S đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Trần Văn S. Quá trình kiểm tra Trần Văn S đã tự giác giao nộp cho tổ tuần tra 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. S khai nhận đó là H của S, cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đưa S cùng vật chứng về Trụ sở UBND xã H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “M”.
Công an xã H đã bàn giao hồ sơ, vật chứng, đối tượng Trần Văn S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu bột dạng cục màu trắng niêm phong ký hiệu “M” thu giữ của Trần Văn S.
Tại bản kết luận giám định số: 244/KL-KTHS ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H). Khối lượng mẫu M: 0,132 gam”.
Bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-GT ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.
Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Trần Văn S từ 24 tháng đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định; áp dụng Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2024, tổ tuần tra Công an xã H, huyện G, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực cống C thuộc xóm A, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Trần Văn S, sinh năm 1990, trú tại xóm A xã H, huyện G, tỉnh Nam Định có hành vi cất giấu trái phép 0,132 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Bị cáo đã từng phải chấp hành án phạt tù tại trại giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đi mua ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân dẫn đến phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích, nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn S là người nghiện ma tuý, không có kinh tế, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ toàn bộ số Heroin hoàn trả mẫu vật sau giám định.
[7] Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Trần Văn S, S khai khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2024, S đi bộ từ nhà đến khu vực xóm A xã B, huyện G mua của một đàn ông, không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 (một) gói Heroine với giá 200.000 đồng. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G không xác định được người bán Heroine cho S nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Văn S 02 (H1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 47/2024 ngày 04 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trần Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Văn S 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2024
