Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số:20/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 22/8/2024

"V/v:Thay đổi người trực tiếp nuôi con,Chia tài sản sau ly hôn, xác định quyền sở hữu tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu

Ông Nguyễn Xuân Trường

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 20 và 22 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm, thụ lý số 15/2024/TLPT-HNGĐ ngày 21/6/2024, về việc "Thay đổi người trực tiếp nuôi con; Chia tài sản sau khi ly hôn; Xác định quyền sở hữu tài sản ". Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ- ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXPT – HNGĐ ngày 22/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐ-PT ngày 7/8/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985.
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt);

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1985.
  4. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);

    Người đại diện theo sự ủy quyền của anh Nguyễn Quang H1: Ông Nguyễn Quang H2, sinh năm 1958; Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt);

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Quang H2, sinh năm 1958 ( có mặt).
    2. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H2: Ông Trần Trung K – Luật sư thuộc văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh H ( có mặt).

    3. Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1963.
    4. Chị Bùi Thị L, sinh năm 1988.
    5. Đều trú tại địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương ( đều vắng mặt).

      Người đại diện theo sự ủy quyền của bà Nguyễn Thị K1 và của chị Bùi Thị L: Ông Nguyễn Quang H2.

    6. Bà Nguyễn Thị K2, sinh năm 1967 ( vắng mặt).
    7. Địa chỉ: Đ, thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);

    8. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958.
    9. Bà Vũ Thị T, sinh năm 1960 ( có mặt).
    10. Địa chỉ đều ở: Đ, thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

  6. Người làm chứng:
    1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957(vắng mặt).
    2. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương

    3. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1999. (vắng mặt).
    4. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    5. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981(vắng mặt).
    6. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    7. Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1970(vắng mặt).
    8. Địa chỉ: Đ, thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương

    9. Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1991 (vắng mặt).
    10. Địa chỉ: Đ, thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương

    11. Ông Nguyễn Khắc B, sinh năm 1977(vắng mặt).
    12. Địa chỉ: thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    13. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974(vắng mặt).
    14. Địa chỉ: thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    15. Anh Nguyễn Danh T2, sinh năm 1987(vắng mặt).
    16. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    17. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1990 (vắng mặt).
    18. Địa chỉ: Đ, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    19. Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1986 (vắng mặt).
    20. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương

    21. Ông Nguyễn Danh H6, sinh năm 1964 (vắng mặt).
    22. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương

    23. Ông Trần Công N1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
    24. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    25. Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1984 (vắng mặt).
    26. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    27. Anh Đào Văn Q, sinh năm 1978 (vắng mặt).
    28. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    29. Ông Dương Danh S, sinh năm 1969 (vắng mặt).
    30. Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã C, huyện K,tỉnh Hải Dương

    31. Anh Đào Văn Đ2, sinh năm 1978 (vắng mặt).
    32. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    33. Ông Nguyễn Ngọc B1, sinh năm 1966 (vắng mặt).
    34. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    35. Ông Nguyễn Quý T5, sinh năm 1962 (vắng mặt).
    36. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương .

    37. Ông Vũ Bá B2, sinh năm 1975 (vắng mặt).
    38. Địa chỉ: Đ, thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    39. Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 1982 (vắng mặt).
    40. Địa chỉ: Đ, thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    41. Anh Đào Văn D, sinh năm 1978 (vắng mặt).
    42. Địa chỉ: Đ, thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    43. Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1989 (vắng mặt).
    44. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương.

    45. Bà Nguyễn Thị H8, sinh năm 1978 (vắng mặt).
    46. Địa chỉ: Đ, thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương

  7. Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H - Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ- ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương vụ án có nội dung tóm tắt như như sau:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Quang H1 kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn và chung sống một thời gian, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Ngày 15/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1. Khi giải quyết ly hôn, Tòa án giao con chung Nguyễn Thị Thanh Thanh H9, sinh ngày 10/10/2007 cho anh H1 nuôi dưỡng; Giao con Nguyễn Quang T7, sinh ngày 24/6/2011 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung, chị và anh H1 tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy nhiên sau khi ly hôn, hai bên không tự thoả thuận được. Ngày 17/2/2023, chị làm đơn khởi kiện đề nghị:

  • + Thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu H9 từ anh H1 sang chị. Lý do, chị thấy cuộc sống của cháu H9 không được an toàn và đảm bảo. Chị đã nhiều lần trao đổi với anh H1 tạo điều kiện thuận lợi để các con sống với chị, nhưng anh H1 không nghe. Ngày 01/01/2023 (dương lịch), cháu H9 đã xuống ở cùng chị. Anh H1 không cấp dưỡng nuôi con, mỗi lần uống rượu say lại đến gia đình chị gây sự. Để đảm bảo cuộc sống và tương lai các con, chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu H9 và cháu T7, tự nguyện không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng.
  • + Chị xác định trong quá trình chung sống, chị và anh H1 đã tạo dựng được: 01 ngôi nhà mái bằng hai tầng, diện tích 240 m² làm trên đất của ông H2, bà K1 ở Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương, 01 điều hòa panasonic, 01 bộ bàn ghế đồng kỵ, 01 tủ lạnh, 01 ti vi Sony, 01 máy giặt nhãn hiệu LG, 02 giường ngủ gỗ + đệm. Toàn bộ tài sản trên, anh H1 đang sử dụng. Chị yêu cầu giải quyết tài sản chung là ngôi nhà hai tầng, còn các tài sản khác và quyền sử dụng đất chị không yêu cầu giải quyết.
  • + Về nợ chung: Chị xác định chị và anh H1 còn nợ của bà Nguyễn Thị K2 150.000.000 đồng và 01 cây vàng, Bà Nguyễn Thị H8 23.500.000 đồng và 04 chỉ vàng 9999. Ông Nguyễn Văn C (vợ là Vũ Thị T) 30.000.000 đồng và 04 chỉ vàng 9999. Mục đích vay để làm nhà hai tầng. Ngoài ra, chị và anh H1 không còn nợ bất cứ ai. Việc vay nợ chỉ có ghi vào sổ và có giấy mượn nợ, không có chữ ký của anh H1. Chị đề nghị Tòa án giải quyết chia đôi khoản nợ trên. Riêng khoản nợ của chị Nguyễn Thị H8 vì là chỗ chị em có thể thỏa thuận được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Quang H1 trình bày:

Sau khi nghiên cứu Thông báo thụ lý, anh được biết chị H có 3 yêu cầu khởi kiện. Đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thị Thanh T8 Huyền từ anh sang chị H, anh đồng ý. Anh không muốn tranh chấp của bố mẹ mà làm khổ đến con.

Đối với yêu cầu chia tài sản là ngôi nhà hai tầng, anh cho rằng: Năm 2006, anh kết hôn với chị H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với ông H2, bà K1 tại ngôi nhà một tầng mà bố mẹ anh xây dựng năm 1987. Do ngôi nhà đã cũ nên năm 2013, bố mẹ anh đã tiến hành khởi công xây dựng tầng một (ngôi nhà hiện nay đang ở) diện tích 135m². Năm 2020, bố mẹ anh tiếp tục xây dựng tầng 2 diện tích 100 m². Việc xây dựng, bố mẹ anh là người chi phí và trực tiếp ký kết Hợp đồng với chủ thầu xây dựng. Vợ chồng anh không có công sức đóng góp gì. Trong quá trình sinh sống cùng bố mẹ, anh và chị H mua sắm được: 01 điều hòa Panasonic; 01 bộ bàn ghế Đồng Kỵ; 01 tủ lạnh; 01 ti vi Sony; 01 máy giặt LG; 02 giường gỗ; 02 tủ quần áo; 02 đệm nằm. Ngoài ra, không mua sắm thêm bất kỳ tài sản nào khác. Việc chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung là động sản, anh đồng ý.

Chị H có khai đưa cho bố anh 718.000.000 đồng để xây nhà là không đúng. Vì tại thời điểm xây nhà, vợ chồng mới cưới, sinh con ngay. Bản thân anh mới đi học lái xe và đi phụ xe khoảng hai năm, thường xuyên bị đau lưng phải nghỉ làm. Chị H không có công ăn việc làm ổn định, thời gian chủ yếu ở nhà trông con, mọi chi phí sinh hoạt phụ thuộc vào bố mẹ chồng, nên không có tích lũy để đưa cho bố mẹ anh.

Về nợ chung: Anh xác định, anh và chị H không vay mượn bất kỳ một khoản nào của Ngân hàng, quỹ tín dụng cũng như bạn bè, người thân trong gia đình. Việc chị H cho rằng, anh và chị H còn vay nợ số tiền 529.520.000 đồng để làm ngôi nhà hai tầng được xây dựng trên đất của bố mẹ anh là không có căn cứ. Nếu có thì khi ly hôn, chị H đã yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản tự khai ngày 04/7/2023, cháu Nguyễn Thị Thanh T8 H9 trình bày:

Cháu là con bố H1, mẹ H. Khi bố mẹ ly hôn, cháu được giao cho bố H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian ở với bố H1, cháu thấy bố làm nghề lái xe tải, ông bà nội kinh doanh buôn bán ở chợ rất ít thời gian quan tâm đến cháu. Mặt khác, cháu là con gái, một số vấn đề về tâm lý, giới tính cháu không biết tâm sự với ai, cháu thấy ở với mẹ sẽ phù hợp hơn. Cháu đề nghị xin được ở với mẹ.

Tại biên bản ghi lời khai đương sự ông Nguyễn Quang H2 trình bày:

Ông là bố đẻ anh H1. Bà K1 là vợ ông. Chị L là vợ mới của anh H1. Ông đồng ý nhận sự ủy quyền của anh H1, bà K1, chị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H về việc phân chia ngôi nhà hai tầng, ông không đồng ý. Bởi anh H1, chị H không có công sức gì trong việc làm ngôi nhà này. Năm 2006, anh H1, chị H kết hôn. Thời điểm đó, anh chị chưa có công việc ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình ông. Chị H thay đổi chỗ làm liên tục. Có thời gian, chị H làm tại công ty M. Sau đó chuyển về làm tại công ty Đ3 ở gần ga P Chị H sức khỏe yếu thường xuyên phải đi bệnh viện điều trị. Sau khi cưới được ba năm, Anh H10 mới xin được phụ xe, công việc không ổn định, thu nhập thấp, trừ chi phí đi lại, ăn uống và nuôi con, không có tiền dành dụm để đưa cho vợ chồng ông. Thời điểm xây nhà, chị H đi làm từ sáng đến tối, ông còn phải cơm nước cho chị H và các cháu con chị H. Anh H10 đi phụ xe mấy ngày mới về không tham gia vào bất kỳ công việc gì. Các hóa đơn, chị H giao cho Tòa chỉ là những hóa đơn giao sơn để gia đình biết không phải hóa đơn thanh toán. Đã là hóa đơn thanh toán người bán phải ghi rõ cụ thể số tiền đã thanh toán, còn nợ bao nhiêu và có chữ ký của người bán. Toàn bộ hóa đơn, chứng từ liên quan đến việc làm nhà, ông đã nộp cho Tòa án.

Ông xác định ngôi nhà vợ chồng ông đang ở là do vợ chồng ông xây dựng. Năm 2013, vợ chồng xây tầng 1 chi phí hết 569.758.000 đồng. Năm 2020, vợ chồng ông xây tầng 2, chi phí hết 690.963.000 đồng. Ông là người trực tiếp mua vật liệu, trực tiếp thanh toán. Nguồn tiền do vợ chồng ông dành dụm hơn 20 năm đi chợ mua bán rau, củ và tiền bán 540m² đất nông nghiệp cho công ty N3 (do ông Nguyễn Danh T9 - phó giám đốc trực tiếp giao dịch) được 120.000.000 đồng. Ngoài ra, vợ chồng ông còn vay mượn của chị Nguyễn Thị T1 (con gái ông) 70.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị H3 (cháu ngoại ông) 4 chỉ vàng 9999; của bà Nguyễn Thị Đ (chị dâu ông) 4 chỉ vàng 9999. Đến nay, ông chưa trả số tiền, vàng trên. Chị H trình bày chị H và anh H10 có vay của bà Nguyễn Thị K2 150.000.000 đồng, một cây vàng; Bà Nguyễn Thị H8 23.500.000 đồng và 4 chỉ vàng 9999; ông Nguyễn Văn C số tiền 30.000.000 đồng và 4 chỉ vàng 9999 để làm nhà, ông không đồng ý vì anh H10 không thừa nhận. Ông không có ý kiến gì về kết quả thẩm định, đinh giá. Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của chị H, xác định ngôi nhà trên là tài sản chung của vợ chồng ông.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/8/2023, ngày 21/8/2023, bà Nguyễn Thị K2 trình bày:

Bà là người cùng làm công ty với chị H. Ngày 10/4/2020, chị H có vay của bà 150.000.000 đồng. Ngày 28/6/2020, chị H vay một cây vàng nhẫn 9999. Anh H10 và chị H là người hỏi vay. Chị H là người trực tiếp nhận tiền. Khi vay anh H10, chị H nói mục đích vay để làm nhà gác hai tầng của vợ chồng. Có thỏa thuận lãi xuất một phẩy (vay 100.000.000 đồng mỗi tháng trả 1.000.000 đồng tiền lãi). Vàng không tính lãi vì vay vàng trả vàng. Tiền bà đưa cho chị H khoảng 3 lần. Bà không nhớ ngày cụ thể nhưng bà và chị H thống nhất ghi gộp vào ngày 10/4/2020. Vàng đưa một lần. Khi đưa không có người chứng kiến. Việc đưa vàng và tiền giữa bà và chị H có lập văn bản mỗi người giữ một bản, không có chữ ký của anh H10. Chị H bảo một mình chị H ký cũng được, bà đồng ý. Số tiền vàng là tài sản riêng của bà không liên quan đến chồng bà là ông Bùi Đình T10. Do khi nhận vàng và tiền chỉ có chị H, viết giấy nhận nợ cũng chỉ có chị H, bà yêu cầu chị H phải trả bà số tiền và vàng trên, không yêu cầu anh H10 phải trả. Khi vợ chồng anh H10, chị H ly hôn, bà không đòi khoản nợ này là do chị H hứa trả dần. Bà được Tòa án cho xem Giấy vay tiền có chữ ký Nguyễn Thị K2, Nguyễn Quang H1, Nguyễn Thị H. Bà xác định chị H là người viết giấy vay tiền, chị H là người sửa ngày tháng năm trong Giấy vay tiền từ ngày 15/7/2022 thành ngày 10/4/2020. Do bận công việc, bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 21/8/2023, ông Bùi Đình T10 trình bày:

Ông là chồng bà K2. Ông được biết, bà K2 có đề nghị Tòa án buộc chị H trả 150.000.000 đồng và 01 cây vàng 9999. Ông xác định số tiền và vàng này là tài sản riêng của bà K2, không phải tài sản chung vợ chồng. Bà K2 vay mượn ở đâu, ông không nắm được. Ông đề nghị Tòa án không đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 02/8/2023, bà Nguyễn Thị H8 trình bày:

Bà là chị gái chị H. Bà cho chị H vay 4 chỉ vàng 9999 vào năm 2013 để chị H xây tầng một và 23.500.000 đồng vào năm 2020 để chị H xây tầng hai. Anh H1 chị H là người hỏi vay. Chị H là người trực tiếp nhận tiền. Khi vay không thỏa thuận lãi suất và không có giấy vay nợ, không có người chứng kiến vì là chỗ chị em. Số tiền vàng này là tài chung của vợ chồng. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền và vàng này. Không yêu cầu Tòa án đưa vợ chồng bà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do bận công việc, bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. (Tại đơn đề nghị ngày 19/02/2024 theo dấu bưu điện, Ông Nguyễn Văn T11 chồng bà H8 nhất trí quan điểm của bà H8, không yêu cầu giải quyết khoản nợ trên)

- Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 02/8/2023, ông Nguyễn Văn C, bà Vũ Thị T trình bày:

Chị H là con đẻ của ông bà. Thời điểm ly hôn, cháu H9 do anh H1 nuôi dưỡng. Chị H có đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con, ông bà không có ý kiến. Cháu H9 ở với chị H và sinh sống cùng vợ chồng ông bà. Nếu Tòa án giao cháu H9 cho chị H nuôi dưỡng, ông bà sẽ hỗ trợ chị H trong việc chăm sóc các cháu. Ông bà xác nhận khi làm nhà chị H, anh H1 có vay 62.000.000 đồng và 4 chỉ vàng giá trị 14.000.000 đồng, tổng là 76.000.000 đồng. Chị H là người trực tiếp nhận tiền, vàng. (tiền đưa làm nhiều lần nhưng không nhớ). Bà T là người trực tiếp đưa không có ai chứng kiến, không lập văn bản. Hiện nay, ông bà yêu cầu anh H1, chị H phải trả số tiền và vàng trên, tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất. Ông bà được Tòa án cho xem một giấy biên nhận vay tiền đề ngày 25/7/2023 do chị H giao nộp, ông bà xác định chữ viết và chữ ký là của bà T do bà T viết vào ngày 25/7/2023. Do tuổi cao, sức khỏe yếu, bận công việc, ông bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án

Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/12/2023, bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà là chị dâu của bà K1. Thời điểm bà K1, ông H2 xây tầng 2 ngôi nhà hai tầng, ông H2 có hỏi vay tiền bà. Do không có tiền mặt, bà đã đồng ý cho ông H2 vay một dây chuyền bốn chỉ vàng 9999, mỗi chỉ trị giá 5.000.000 đồng. Khi cho vay có cả hai vợ chồng ông H2. Đến nay, vợ chồng ông H2 chưa trả số nợ trên. Bà xác định số vàng trên là trang sức, tài sản riêng của bà không liên quan đến chồng bà là ông Nguyễn Văn O. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, tự nguyện không yêu cầu giải quyết số vàng đã cho vay trong vụ án (Tại đơn đề nghị ngày 07/12/2023, ông Nguyễn Văn O nhất trí quan điểm của bà Đ).

Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/12/2023, chị Nguyễn Thị H3 trình bày:

Chị là cháu ngoại của ông H2. Cuối năm 2020, khi ông bà làm tầng hai, do thiếu tiền ông H2, bà K1 có sang nhà chị vay tiền. Do không có tiền mặt, chị đã cho ông H2 vay một dây chuyền 04 chỉ vàng 9999, mỗi chỉ trị giá 5.000.000 đồng. Khi cho vay có cả 2 vợ chồng ông H2. Đến nay, vợ chồng ông H2 chưa trả. Chị xác định số vàng trên là đồ trang sức mừng ngày cưới, tài sản riêng của chị không liên quan đến chồng là anh Nguyễn Danh H11. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và không yêu cầu giải quyết số vàng trong vụ án này (Tại đơn đề nghị ngày 07/12/2023, anh Nguyễn Danh H11 nhất trí quan điểm của chị H3).

Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/12/2023, chị Nguyễn Thị T1 trình bày:

Chị là con đẻ của ông H2. Năm 2020, bố mẹ chị làm tầng hai có hỏi vay tiền chị. Chị cho bố mẹ vay 70.000.000 đồng. Khi cho vay có cả hai vợ chồng ông H2. Đến nay, vợ chồng ông H2 chưa trả. Chị xác định số tiền trên là tài sản chung của vợ chồng chị. Do bận công việc, chồng chị là anh Nguyễn Thế H12 không có mặt tại buổi làm việc, ủy quyền cho chị trình bày với Tòa án. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Chị không yêu cầu giải quyết số tiền đã cho vay (Tại đơn đề nghị ngày 07/12/2023, anh Nguyễn Thế H12 nhất trí quan điểm của chị T1).

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 12/12/2023, bà Nguyễn Thị H4 trình bày:

Chồng bà là Đặng Văn H13. Vợ chồng bà kinh doanh vật liệu xây dựng tại nhà, lấy tên cửa hàng là Hoan H14. Ông H2 là người cùng xã, không có mâu thuẫn, không có quan hệ họ hàng. Năm 2013 và năm 2020, ông H2 (vợ là K1) xây nhà. Vợ chồng bà có bán nguyên vật liệu cho ông H2, cụ thể: tiền vật liệu xây tầng 1 là 58.150.000 đồng; tầng 2 là 64.940.000 đồng. Người trực tiếp giao dịch mua nguyên vật liệu là ông H2, người trả tiền là ông H2. Ngoài ông H2 trả tiền, không còn ai khác. Đến nay ông H2 đã trả xong không còn nợ bất kỳ khoản nào khác. Bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 12/12/2023, chị Nguyễn Thị H5 trình bày:

Chị đang kinh doanh thiết bị điện nước tại nhà (cửa hàng T13 là tên bố mẹ đẻ chị). Khoảng Năm 2013 và 2020, gia đình chị có bán cho ông H2 một số thiết bị điện nước để ông H2 lắp đặt cho tầng 1 và 2 của ngôi nhà hiện nay vợ chồng ông H2 đang ở. Số tiền ông H2 phải thanh toán cho cửa hàng khi lắp đặt tầng 1 là 50.371.000 đồng; tầng 2 là 31.858.000 đồng. Ông H2 là người trực tiếp đến mua và thanh toán. Đến nay, ông H2 đã trả xong không còn nợ bất kỳ khoản nào. Ngoài ông H2 trả tiền không còn ai khác. Khi thanh toán, chị có viết hóa đơn cho ông H2. Chị xác định các hóa đơn ông H2 cung cấp cho Tòa án là của cửa hàng, chữ ký và chữ viết trong hóa đơn là của chị. Hiện cửa hàng không còn lưu giữ sổ sách theo dõi các khoản mua bán với ông H2. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 12/12/2023, ông Nguyễn Khắc B trình bày:

Vợ ông là Nguyễn Thị H15. Vợ chồng ông đang kinh doanh sơn tại nhà (cửa hàng B3). Có quan hệ họ hàng với ông H2. Không có mâu thuẫn gì với chị H. Khoảng năm 2013 và 2020, cửa hàng có cung cấp bán sơn cho ông H2, để ông H2 xây dựng tầng 1 và tầng 2 của ngôi nhà. Tổng số tiền ông H2 phải thanh toán tiền sơn tầng 1 là 57.928.000 đồng, tầng 2 là 126.229.000 đồng. Ông H2 đã trả được 130.157.000 đồng, hiện còn nợ lại 54.000.000 đồng. Hóa đơn thanh toán đợt 1 có tên cửa hàng là Chúc H16 (thời điểm đó làm chung với vợ chồng Chúc H16), sau đó vợ chồng Chúc H16 không kinh doanh nữa nhường lại cửa hàng cho vợ chồng ông. Người giao dịch và trực tiếp trả tiền là ông H2, ngoài ông H2 trả tiền không còn ai khác. Lý do, chị H16 có hóa đơn của cửa hàng là do chị H16 lấy ở tủ nhà ông H2 (Mỗi lần giao sơn, ông để hóa đơn vào đó). Hiện cửa hàng còn lưu giữ sổ sách theo dõi các khoản mua bán với ông H2 năm 2020, còn năm 2013 không lưu. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 12/12/2023, bà Nguyễn Thị N trình bày:

Chồng bà là ông Nguyễn Khắc T12. Vợ chồng bà đang kinh doanh vật liệu xây dựng (gạch men, ngói, thiết bị vệ sinh...), không có quan hệ họ hàng gì với ông H2, chị H16, anh H1. Khoảng năm 2013 và 2020, vợ chồng bà có bán cho vợ chồng ông H2 gạch, ngói, thiết bị bệt, sen vòi... tầng 1 là 36.009.000 đồng; tầng 2 là 82.381.000 đồng, tổng cộng 118.390.000 đồng. Đến nay, ông H2 còn nợ 18.037.000 đồng. Người trực tiếp giao dịch và trực tiếp trả tiền là ông H2. Chị H16, anh H1 không trả bất cứ khoản nào. Khi thanh toán, bà có liệt kê danh sách các mặt hàng và số tiền cho ông H2. Sau khi được cán bộ Tòa án cho xem bản thống kê danh sách các mặt hàng cửa hàng đã bán cho ông H2 và số tiền. Bà xác định chữ viết trong danh sách đó là của bà. Do bận công việc, vợ chồng bà đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Mặc dù, ông H2, bà K1 còn nợ một số tiền. Bà xác định đây là quan hệ riêng, không liên quan đến việc giải quyết vụ án. Vợ chồng bà không đề nghị giải quyết khoản nợ trong vụ án, khi nào ông H2 có thì trả.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 12/12/2023, anh Nguyễn Danh T2 trình bày:

Anh đang sản xuất đồ mộc tại nhà, không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn với ông H2, chị H16, anh H1. Năm 2013, anh có đóng toàn bộ cửa gỗ và cầu thang tầng 1 ngôi nhà ông H2 đang ở. Tổng số tiền cửa, tiền cầu thang, tiền sửa cửa cũ là 80.800.000 đồng. Ông H2 là người trực tiếp giao dịch và người trực tiếp trả tiền. Hiện nay, ông H2 không nợ anh khoản tiền nào. Khi làm, anh có lập danh sách, báo giá và thanh toán với ông H2. Danh sách này ông H2 đã nộp cho Tòa án. Anh xác định chữ ký và chữ viết trong bản danh sách ông H2 nộp là chữ ký và chữ viết của anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 12/12/2023, chị Nguyễn Thị T3 trình bày:

Gia đình chị đang kinh doanh cửa kính, khung nhôm tại nhà. Không có quan hệ họ hàng, hay mâu thuẫn gì với ông H2, chị H16. Năm 2020, cửa hàng có lắp đặt cho ông H2 một số bộ cửa để ông H2 nắp đặt tầng 2 ngôi nhà ông H2 đang ở, tổng số tiền là 64.934.000 đồng. Vợ chồng ông H2 là người trực tiếp giao dịch và trả tiền. Ngoài vợ chồng ông H2 trả tiền thì không còn ai khác. Khi mua bán và thanh toán, giữa hai bên có viết hóa đơn cho ông H2. Chị xác định hóa đơn đề ngày 16/10/2000, ông H2 cung cấp cho Tòa án là do cửa hàng xuất ra. Chữ ký và chữ viết trong hóa đơn là của chị. Đến nay ông H2 đã thanh toán hết không còn nợ. Nguồn tiền ở đâu, chị không rõ. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 14/12/2023, anh Nguyễn Văn Đ1 trình bày:

Anh không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, chị H16, anh H1. Anh làm cơ khí dân dụng, tự do. Năm 2020, anh có làm mái ngói, mái tôn tầng 2 ngôi nhà ông H2 đang ở, tổng số tiền ông H2 phải thanh toán là 14.500.000 đồng. Đến nay, ông H2 đã thanh toán xong. Người trực tiếp giao dịch và trực tiếp trả tiền là ông H2. Anh xác định hợp đồng ông H2 cung cấp cho Tòa án có chữ ký Nguyễn Văn Đ1, là do anh viết và xác nhận. Đến nay ông H2 đã thanh toán hết không còn nợ. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 14/12/2023, ông Nguyễn Danh H6 trình bày:

Ông không có quan hệ, họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Ông làm nghề thợ xây. Năm 2013, ông xây tầng 1 (xây phần thô, không hoàn thiện) cho ông H2. Ngôi nhà hiện nay, ông H2 đang ở, tổng diện tích xây khoảng 135 m², trị giá 750.000 đồng/m², thành tiền là 101.000.000 đồng. Ông H2 đã trả đủ số tiền trên. Ông H2 là người trực tiếp giao dịch và trực tiếp thanh toán tiền, còn nguồn tiền ở đâu ông không nắm được. Sau khi được cán bộ Tòa án, cho xem Hợp đồng xây dựng nhà ở dân dụng ngày 08/3/2013, Ông xác định hợp đồng đó do ông thiết lập giao cho ông H2, phần chữ viết và chữ ký là của ông. Ông xác định nội dung trong hợp đồng là chính xác. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 14/12/2023, ông Trần Công N1 trình bày:

Ông không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Ông làm nghề lái xe chở vật liệu xây dựng. Năm 2020, ông chở nguyên vật liệu cho gia đình ông H2, tổng số tiền ông H2 phải thanh toán là 46.130.000 đồng. Đến nay, vợ chồng ông H2 đã thanh toán xong số tiền trên. Ông H2 là người trực tiếp giao dịch và trả tiền, không liên quan đến chị H16. Ông xác định hai hóa đơn do ông H2 cung cấp cho Tòa án có chữ ký và chữ viết của ông. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt và từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 14/12/2023, anh Hoàng Văn T4 bày:

Anh không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Anh đang làm nghề điện dân dụng. Năm 2020, anh có lắp đặt toàn bộ hệ thống điện nước tầng 2 (ngôi nhà hiện nay ông H2 đang ở), tổng số tiền ông H2 phải thanh toán là 13.120.000 đồng. Ông H2 đã thanh toán xong. Ông H2 là người trực tiếp giao dịch và trực tiếp trả tiền, không liên quan đến chị H16 hay anh H1. Sau khi được cán bộ Tòa án cho xem Hợp đồng điện nước do ông H2 giao nộp cho Tòa án. Anh xác định chữ viết, chữ ký trong các tài liệu đó là của anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt và từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 18/12/2023, anh Đào Văn Q trình bày:

Anh không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Anh làm nghề xây dựng đá Granit. Vào khoảng thời gian nào, anh không nhớ, anh chỉ nhớ đã làm đá cầu thang và bậc tam cấp tầng 1 ngôi nhà hiện nay vợ chồng ông H2 đang ở. Tiền đá và tiền công, vợ chồng ông H2 phải thanh toán là 20.000.000 đồng. Sau khi hoàn thiện xong tầng 1, ông H2 đã trả anh toàn bộ số tiền trên. Người trực tiếp thuê anh làm và trực tiếp trả tiền là ông H2, không liên quan đến ai khác, còn nguồn tiền ở đâu anh không biết. Anh xác định giấy xác nhận do ông H2 cung cấp cho Tòa án có chữ ký và chữ viết của anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 18/12/2023, ông Dương Danh S trình bày:

Ông không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Ông làm nghề chở nguyên vật liệu. Năm 2013, khi ông H2 xây nhà mái bằng, hiện nay ông H2, bà K1 đang ở. Ông có chở nguyên vật liệu cho ông H2 gồm (đá, cát vàng, cát trát, gạch..), tổng số tiền ông H2 phải thanh toán là 30.500.000 đồng. Sau khi xong công trình tầng 1, ông H2 thanh toán cho ông đầy đủ số tiền trên. Đến nay, không còn nợ. Ông H2 là người trực tiếp giao dịch và trả tiền, không liên quan đến chị H16, anh H1. Sau khi được cán Tòa án cho xem Giấy xác nhận vật liệu đề ngày 20/11/2013 dưới có chữ ký Sanh (Dương Danh S) do ông H2 giao nộp cho Tòa án. Ông xác nhận chữ ký và chữ viết trong Giấy xác nhận đó là của ông. Ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 18/12/2023, anh Đào Văn Đ2 trình bày:

Anh không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Anh làm nghề phá dỡ công trình. Năm 2013, anh có phá nhà mái bằng cũ cho gia đình ông H2 để ông H2 lấy mặt bằng xây dựng ngôi nhà 2 tầng hiện nay đang ở, tổng số tiền công ông H2 phải thanh toán là 12.700.000 đồng. Đến nay, ông H2 đã thanh toán xong, không còn nợ khoản nào. Người trực tiếp giao dịch và trực tiếp trả tiền là ông H2, không liên quan đến chị H16 hay anh H1. Nguồn tiền ông H2 trả ở đâu, anh không nắm được. Sau khi được cán Tòa án cho xem bản viết tay Hợp đồng phá nhà vào ngày 02/3/2013 do ông H2 giao nộp cho Tòa án có chữ ký Đ2 (Đào Văn Đ2). Anh xác nhận chữ ký và chữ viết trong Giấy xác nhận đó là của anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, tự chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 18/12/2023, ông Nguyễn Ngọc B1 trình bày:

Ông không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Ông làm nghề thợ xây. Năm 2020, ông có xây tầng 2 cho vợ chồng ông H2, bà K1. Tổng số tiền công ông H2 phải thanh toán là 253.000.000 đồng. Đến ngày 20/6/2020, ông H2 đã thanh toán cho ông đầy đủ số tiền trên. Hiện nay, ông H2 không còn nợ. Người trực tiếp liên hệ xây dựng và trực tiếp trả tiền là ông H2, không liên quan đến chị H16, anh H1. Nguồn tiền ở đâu ông không nắm được. Sau khi được cán Tòa án cho xem Bản Hợp đồng xây dựng nhà ở dân dụng ngày 17/2/2020 có chữ ký Bằng. Ông xác nhận chữ ký và chữ viết trong tài liệu đó là của ông. Ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 18/12/2023, ông Nguyễn Quý T5 trình bày:

Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Quý H17. Hiện nay, anh H17 đã chuyển khẩu sinh sống ở phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Trước đây, anh H17 làm nghề khung nhôm cửa kính ở địa phương. Ông xác nhận anh H17 có làm khung nhôm cửa kính cho ông H2. Cụ thế thế nào, ông không biết. Khi ông H2 đến liên hệ, ông có gặp ông H2 ở chỗ H17. Sau khi Tòa án cho xem tài liệu có chữ viết của H17, ông không xác định được có phải chữ viết của H17 không. Ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 18/12/2023, ông Vũ Bá B2 trình bày:

Ông không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với ông H2, anh H1, chị H16. Năm 2013, ông có trát tầng 1 ngôi nhà hai tầng hiện nay ông H2 đang ở, tổng số tiền công ông H2 phải thanh toán là 124.000.000 đồng. Đến nay, ông H2 đã trả ông đầy đủ số tiền trên, không còn nợ. Người trực tiếp giao dịch và trả tiền là ông H2, không liên quan đến chị H16, hay anh H1. Ông xác định Hợp đồng xây nhà do ông H2 cung cấp cho Tòa án có chữ ký của ông. Ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 25/12/2023, anh Nguyễn Văn T6 trình bày:

Anh không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với chị H16, ông H2, anh H1. Anh làm I, nhôm kính tại nhà. Năm 2020, anh có làm lan can Inox tầng 2 cho ông H2, tổng số tiền công ông H2 phải thanh toán là 20.500.000 đồng. Ông H2 đã thanh toán xong không còn nợ. Người trực tiếp giao dịch và trả tiền là ông H2, không liên quan đến chị H16 hay anh H1. Sau khi được cán Tòa án cho xem Hóa đơn bán hàng ngày 08/9/2020 có chữ ký Nguyễn Văn T6 do ông H2 giao nộp cho Tòa án. Anh xác nhận hóa đơn đó do anh phát hành, chữ ký và chữ viết trong hóa đơn là của anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 25/12/2023, anh Đào Văn D trình bày: Anh không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với chị H16, ông H2, anh H1. Anh kinh doanh sắt, thép xây dựng tại nhà, tên cửa hàng A. Năm 2020, anh có bán sắt định hình và tôn để ông H2 làm mái nhà (ngôi nhà ông H2 đang ở), A đã bán cho ông H2 7 đợt, tổng số tiền ông H2 phải thanh toán là 33.444.000 đồng. Đến nay, ông H2 đã trả hết số tiền trên. Người trực tiếp giao dịch và trả tiền là ông H2, không liên quan đến chị H16. Anh xác định phiếu bán hàng do ông H2 cung cấp cho Tòa án có chữ ký và chữ viết của anh. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 25/12/2023, chị Nguyễn Thị H7 trình bày:

Chồng chị là Nguyễn Văn C1. Hiện nay, vợ chồng chị làm cơ khí, nhôm kính tại nhà. Vợ chồng chị không có quan hệ họ hàng hay mâu thuẫn gì với chị H16, anh H1, ông H2. Năm 2020, chồng chị có làm chấn song cửa, giàn phơi quần áo cho ông H2, tổng số tiền ông H2 phải thanh toán là 12.000.000 đồng. Vợ chồng ông H2 đã thanh toán xong ngay sau khi chồng chị hoàn thành xong công việc. Người trực tiếp giao dịch và trả tiền là ông H2, không liên quan đến chị H16, anh H1. Chị xác định Giấy biên nhận ngày 15/9/2020 do ông H2 cung cấp cho Tòa án có chữ ký và chữ viết là của chồng chị. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt vợ chồng chị và từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại Giấy xác nhận ngày 10/01/2024, ông Nguyễn Danh T9 xác nhận: Năm 2012, ông có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông H2, bà K1 540 m² đất nông nghiệp tại khu V, thôn G, xã C, huyện K với số tiền là 120.000.000 đồng.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã căn cứ Điều 29, 33, 37, 59, 60, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Điều 147, Điều 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H về yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con từ anh Nguyễn Quang H1 sang chị Nguyễn Thị Thu H.
  2. Giao con chung Nguyễn Thị Thanh Thanh H9, sinh ngày 10/10/2017 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng từ tháng 3/2024 đến khi cháu H9 đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có thay đồi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Anh H1 được thăm nom con chung không ai được cản trở.

  3. Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung là ngôi nhà 2 tầng và nợ chung của chị Nguyễn Thị Thu H.
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung là động sản và quyền sử dụng đất.

  5. Về các khoản nợ:
  6. Xác định khoản nợ của bà Nguyễn Thị K2, ông Nguyễn Văn C (bà Vũ Thị T) là khoản nợ riêng của chị Nguyễn Thị Thu H.

    Buộc chị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị K2 218.900.000 đồng, ông Nguyễn Văn C ( vợ là Vũ Thị T) 89.560.000 đồng.

  7. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang H2.
  8. Xác định ngôi nhà hai tầng được xây dựng trên thửa đất 204,205, 254 tờ Bản đồ số 4 ở Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Quang H2, bà Nguyễn Thị K1.

    Buộc ông Nguyễn Quang H2, bà Nguyễn Thị K1 áng trích công sức đóng góp đối với ngôi nhà hai tầng cho chị Nguyễn Thị Thu H là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn).

Ngoài ra bản án còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 4 năm 2024 chị Nguyễn Thị Thu H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm về phần tài sản và về phần nợ chung vợ chồng. Cụ thể, chị đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị, xác định ngôi nhà 2 tầng là tài sản chung của chị và anh H1. Đề nghị xác định khoản nợ vay của bà K2, bà T và ông C là khoản nợ chung vợ chồng. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông H2.

Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ông H2 không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của chị H. Tuy nhiên ông xác định chị H có trả hộ ông 20.000.000 đồng tiền sắt cho anh Đào Văn D và 12.500.000 đồng tiền điện nước cho anh Ninh Văn N2. Do vậy ông đồng ý trả cho anh H1 và chị H mỗi người ½ số tiền này. Đồng thời ông H2 tự nguyện trả cho chị H tổng số 50.000.000 đồng tiền công sức quản lý nhà 2 tầng trên đất. Các nội dung khác ông đề nghị giữ nguyên như quyết định của bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H2 có quan điểm: Chị H kháng cáo cho rằng chị là người vay tiền để đưa cho ông H2 trả tiền xây nhà là không có căn cứ, vì ông H2 và anh H1 đều không thừa nhận các khoản nợ này. Bên cạnh đó ông H2 xuất trình được các hợp đồng xây dựng và các hoá đơn mua nguyên vật liệu, đồng thời ông H2 là người trực tiếp trả tiền, nên có căn cứ xác định ngôi nhà 2 tầng trên đất là của ông H2, bà K1. Tại cấp phúc thẩm chị H xuất trình căn cứ chứng minh chị đã trả 20.000.000 sắt và 12.500.000 tiền lắp điện nước, nguồn tiền là của vợ chồng. Ông H2 xác định đây là khoản tiền chị H đã trả hộ ông và đồng ý trả cho chị H ½ số tiền này. Ông H2 cũng đồng ý trả thêm cho chị H 20.000.000 đồng tiền công sức. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng, chấp nhận sự tự nguyện của ông H2 trả cho chị H 50.000.000 đồng tiền công sức và ½ số tiền 32.500.000 đồng. Đề nghị không chấp nhận các nội dung kháng cáo khác của chị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Chị H kháng cáo cho rằng căn nhà 2 tầng trên đất của ông H2, bà K1 là tài sản chung của chị và anh H1. Tuy nhiên anh H1 không thừa nhận. Ông H2 xác định căn nhà là của vợ chồng ông, được ông H2 chứng minh bằng các hợp đồng và việc ông H2 là người trực tiếp trả tiền. Những người làm chứng cũng xác định ông H2 là người trả tiền, nên có căn cứ xác định ngôi nhà 2 tầng trên đất là của vợ chồng ông H2. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm chị H chứng minh được chị đã trả được 20.000.000 đồng tiền sắt và 12.500.000 đồng là tiền điện nước của tầng 1. Ông H2 cũng xác nhận chị H đã trả 2 khoản tiền trên, đồng thời tự nguyện trả thêm cho chị H 20.000.000 đồng tiền công sức trong việc quản lý nhà nên có căn cứ chấp nhận. Đối với 2 khoản nợ của bà K2 và bà T, chị H không có căn cứ chứng minh anh H1 biết và cùng vay số tiền này, nên xác định là nợ riêng của chị H. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận 1 phần kháng cáo của chị H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông H2, bà K1 phải trả cho anh H1, chị H 32.500.000 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của ông H2 trả cho chị H 50.000.000 đồng tiền công sức quản lý nhà. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần nợ đối với chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị Thu H kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
  2. Xét kháng cáo của chị H, Hội đồng xét xử thấy:
    1. Chị H kháng cáo cho rằng ngôi nhà 2 tầng trên đất là của vợ chồng chị. Nguồn tiền xây nhà 1 phần do vợ chồng chị dành dụm được, 1 phần là do vợ chồng đi vay. Do chị và anh H1 phải đi làm nên toàn bộ số tiền này chị đã đưa cho ông H2, nhờ ông H2 đứng ra làm hợp đồng, thuê thợ và trả tiền nguyên vật liệu. Tuy nhiên ông H2 và anh H1 đều không thừa nhận mà cho rằng nguồn tiền xây nhà là của ông H2, bà K1; anh H1 và chị H do công việc không ổn định nên không thể có tiền để đưa cho ông H2 xây nhà. Tại cấp phúc thẩm chị H xuất trình 01 bản sao kê của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ4, thể hiện vào ngày 06/02/2021 chị H đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng đến tài khoản 101000743743, với nội dung “ Em H trả tiền sắt”. Theo chị H đây là là số tiền chị đã trả cho anh Đào Văn D là người đã bán sắt cho vợ chồng chị khi chị xây nhà. Toà án đã lấy lời khai của anh D để làm rõ nội dung này. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 và ngày 14/8/2024 anh D xác nhận, ngày 6/2/2021 chị H đã trả cho anh 20.000.000 đồng tiền sắt, số tiền sắt còn lại là 13.444.000 đồng thì ông H2 là người trực tiếp trả. Cũng tại cấp phúc thẩm chị H còn cung cấp 01 giấy xác nhận của anh Ninh Văn N2, với nội dung chị đã thuê anh N2 làm điện nước cho chị khi chị xây tầng 1 năm 2013 và đã trả cho anh N2 tổng số tiền là 12.500.000 đồng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 6/8/2024 anh N2 xác nhận, vào năm 2013 ông Nguyễn Văn C ( bố đẻ của chị H) có đến nhờ anh làm điện nước cho gia đình chị H. Khi xong việc chị H đã trả cho anh 12.500.000 đồng. Chị H khẳng định đây là 2 khoản tiền làm nhà chị đã trả trực tiếp, số tiền còn lại là chị nhờ ông H2 trả.
    2. Tại phiên toà ông H2 xác định trước đây do ông nhớ nhầm nên đã khai ông là người trực tiếp trả toàn bộ tiền làm nhà. Nay ông thừa nhận chị H đã trả 2 khoản tiền này và xác định chị H trả hộ ông nên ông đồng ý trả cho anh H1 và chị H mỗi người ½. Hội đồng xét xử thấy, lời khai của ông H2 không thống nhất, ban đầu ông xác định ông là người đã trả toàn bộ tiền xây nhà, sau khi chị H xuất trình các chứng cứ mới ông H2 lại xác định chị H có trả hộ ông 2 khoản tiền trên. Tuy nhiên chị H xác định 2 khoản tiền trên là những khoản tiền chị đã trả khi làm nhà, chị không trả hộ ông H2 như ông H2 trình bày. Tại phiên tòa chị H xuất trình 01 quyển sổ ghi chép các khoản tiền nợ và các khoản tiền chị đã đưa cho ông H2, để ông H2 trả tiền nguyên vật liệu cho vợ chồng chị, thời điểm từ năm 2013 khi vợ chồng chị xây tầng 1 và năm 2020 khi vợ chồng chị xây tầng 2. Mặc dù các khoản tiền này không có chữ ký của người cho vay, không có chữ ký của ông H2 nhưng là một trong những căn cứ thể hiện có việc chị H ghi chép, theo dõi các khoản tiền khi xây nhà. Từ phân tích trên cho thấy có căn cứ xác định nguồn tiền để xây ngôi nhà 2 tầng trên đất của ông H2, bà K1 có 1 phần tiền đóng góp của anh H1 và chị H. Do vậy cần xác định ngôi nhà 2 tầng trên đất là tài sản chung của ông H2, bà K1, anh H1 và chị H.

      Xem xét về quá trình quản lý, sử dụng đất và ngôi nhà trên đất, Hội đồng xét xử thấy, theo chị H trình bày thì năm 2006 chị và anh H1 kết hôn. Ngay sau khi kết hôn vợ chồng chị đã ở tại ngôi nhà cũ do vợ chồng ông H2 xây dựng. Đến năm 2013 anh chị đã phá nhà cũ để xây nhà mới (xây tầng 1 năm 2013, xây tầng 2 năm 2020) và vợ chồng chị H cùng các con đã ở trên ngôi nhà này. Ông H2, bà K1 không ở cùng vợ chồng chị. Đến năm 2022 khi vợ chồng ly hôn thì chị H mới về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Như vậy chị H đã có thời gian dài quản lý đất và nhà trên đất. Nay chị yêu cầu chia tài sản chung cũng như xem xét về công sức của chị trong việc quản lý, duy trì nhà đất là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Mặt khác chị H hiện nuôi 2 con, nên để đảm bảo quyền lợi cho chị H cần trích cho chị H 1/5 giá trị ngôi nhà trên đất ( bao gồm tiền giá trị tài sản chung của chị H được hưởng và tiền công sức duy trì tài sản trên đất ). Cụ thể theo kết quả định giá thì ngôi nhà 2 tầng trên đất có giá trị là 880.394.000 đồng. Phần của chị H được hưởng = 880.394.000 đồng : 5 = 176.078.800 đồng. Làm tròn = 176.079.000 đồng. Do ngôi nhà được làm trên đất của ông H2, bà K1 nên cần giao cho ông H2, bà K1 được quản lý, sử dụng toàn bộ ngôi nhà. Ông H2, bà K1 phải có trách nhiệm trả cho chị H 176.079.000 đồng.

      Quá trình giải quyết vụ án anh H1 xác định tài sản trên đất không phải là của anh và chị H, đồng thời không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này nếu anh H1 có yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

    3. Xét yêu cầu của chị H về việc đề nghị xác nhận các khoản nợ của bà Nguyễn Thị K2, bà Vũ Thị T và ông Nguyễn Văn C là nợ chung vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy:
    4. - Đối với khoản nợ của bà K2 150.000.000 đồng và 01 cây vàng, tổng = 218.900.000 đồng. Theo chị H trình bày, khi làm nhà tầng 2 chị đã vay bà K2 số tiền và vàng nêu trên để đưa cho ông H2 trả tiền nguyên vật liệu. Khi hỏi vay cả chị và anh H1 đều hỏi bà K2, nhưng khi viết giấy vay nợ do anh H1 đi lái xe không có nhà nên chỉ 1 mình chị ký. Bà K2 cũng xác nhận cả anh H1 và chị H đều hỏi vay tiền và vàng của bà. Tuy nhiên anh H1 không thừa nhận. Bà K2 và chị H cũng không đưa ra được chứng cứ nào khác chứng minh anh H1 biết và sử dụng số tiền trên vào việc xây nhà. Do vậy Toà án cấp sơ thẩm xác định khoản nợ này là nợ riêng của chị H, đồng thời buộc chị H phải có trách nhiệm trả cho bà K2 là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm Bà K2 xác định ngày 16/10/2022 chị H đã trả bà K2 70.000.000 đồng, nên chị H chỉ còn nợ bà K2 148.900.000 đồng.

      - Đối với khoản nợ bà Vũ Thị T và ông Nguyễn Văn C ( là bố mẹ đẻ của chị H18) 62.000.000 đồng và 04 chỉ vàng = 89.560.000 đồng. Chị H và bà T đều khai chị H và anh H1 vay để làm nhà. Do là mẹ con nên ông bà không bắt chị H và anh H1 viết giấy vay tiền. Tuy nhiên anh H1 cũng không thừa nhận khoản nợ này. Chị H và bà T không chứng minh được có việc đưa tiền vàng cho anh H1 và chị H nên Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là khoản nợ riêng của chị H là có căn cứ. Nội dung kháng cáo này của chị H cũng không có căn cứ chấp nhận.

      Từ phân tích trên có căn cứ chấp nhận 1 phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu H.

  3. Về án phí:
    1. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
    2. Do ông H2, bà K1 là người cao tuổi nên được miễn án phí.

      Đối với anh Nguyễn Văn H19 do chưa giải quyết về phần tài sản chung nên chưa phải chịu án phí dân sự sơ thẩm:

    3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị H kháng cáo được chấp nhận 1 phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận 1 phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu H. Sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm 13/2024/HNGĐ - ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương về phần tài sản chung vợ chồng, về phần nợ như sau:

Căn cứ các Điều 29, 33, 37, 59, 60, 61, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 147, 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X:

  1. Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H. Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang H2. Xác định ngôi nhà hai tầng được xây dựng trên thửa đất số 204, 205, 254 tờ bản đồ số 4 ở Đ, thôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương là tài sản chung của ông Nguyễn Quang H2, bà Nguyễn Thị K1, anh Nguyễn Văn H19 và chị Nguyễn Thị Thu H. Giá trị ngôi là 880.394.000 đồng.
  2. Giao cho ông Nguyễn Quang H2, bà Nguyễn Thị K1 được quyền quản lý sử dụng toàn bộ ngôi nhà 2 tầng trên đất.

    Ông Nguyễn Quang H2, bà Nguyễn Thị K1 phải trả cho chị Nguyễn Thị Thu H 176.079.000 đồng.

    Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung là động sản và quyền sử dụng đất.

  3. Về các khoản nợ:
  4. Xác định khoản nợ của bà Nguyễn Thị K2, ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T là khoản nợ riêng của chị Nguyễn Thị Thu H.

    Buộc chị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị K2 148.900.000 đồng, trả cho ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T 89.560.000 đồng.

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh chậm trả được thực hiện theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 8.804.000 đồng án phí chia tài sản và 11.923.000 đồng (Mười một triệu chín trăm hai mươi ba nghìn đồng) án phí đối với khoản nợ riêng, tổng là 20.727.000 đồng, được đối trừ đi 6.800.000 đồng và 4.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng số 0003083 ngày 22/5/2023 và Biên lai thu tiền tạm ứng số 0001614 ngày 14/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành. Chị H còn phải nộp tiếp 9.927.000 đồng ( Chín triệu chín trăm hai mươi bẩy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả chị H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm chị đã nộp, theo biên lai thu số 0001973 ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Kim Thành
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kim Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-PT ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về thay đổi người trực tiếp nuôi con, chia tài sản sau ly hôn, xác định quyền sở hữu tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Thay đổi người trực tiếp nuôi con, Chia tài sản sau ly hôn, xác định quyền sở hữu tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của chị H, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger