Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày 22/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hải Đăng

2. Bà Nguyễn Thị Cương

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Hoa– Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên;

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn D - sinh năm 1992;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Văn B năm 1969; Họ và tên mẹ: Trần Thị G năm 1973; Vợ: Phan Thị H năm 1994 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2014; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

- Tiền án: Tại Bản án số 69/2021/HSST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 12/8/2022.

- Tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Ngày 12/9/2012, bị Công an phường T Bxử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

+ Ngày 08/6/2015, bị Công an huyện Y vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

+ Ngày 23/02/2017, bị Chủ tịch UBND xã Đ Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

+ Ngày 05/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2017.

+ Ngày 10/8/2021, bị Công an xã Đ vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” (thực hiện hành vi ngày 13/7/2021).

+ Ngày 11/11/2021, bị Công an huyện Y vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” (thực hiện hành vi ngày 02/8/2021).

+ Ngày 23/11/2021, bị Công an huyện Y vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/02/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y (có mặt tại phiên tòa)

2. Bị hại:

- Ông Khúc Ngọc Q- sinh năm 1962 (vắng mặt)

Nơi ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Căn hộ E, phường M, quận N, thành phố Hà Nội

- Anh Nguyễn Văn N sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn N1sinh năm 1992 (vắng mặt)

Nơi ở: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

4. Người làm chứng:

- Bà Hoàng Thị C năm 1968(vắng mặt)

Nơi ở: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong hai ngày 25/12/2023 và ngày 26/12/2023; Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giangđã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giangcụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 25/12/2023, Nguyễn Văn D bộ một mình từ nhà đến khu vực nhà ông Khúc Ngọc Q sinh năm 1962 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Căn hộ E, phường M, quận N, thành phố H thì thấy nhà ông Q có ai, xung quanh vắng vẻ nên sinh ý định đột nhập vào trong nhà ông xem có tài sản gì có giá trị thì trộm cắp đem đi bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Sau đó, qua bờ tường bao của nhà ông bên trong bãi trồng cây và đi đến vị trí nhà kho, Dthấy cửa kho khoá ngoài nên bộ ra bãi trồng cây tìm thấy 01 thanh kim loại dài khoảng 40cm mang vào phá ổ khóa nhà kho rồi lấy 01 chiếc xà beng có chiều dài 147cm, một đầu nhọn, một đầu bẹt, đường kính 2,5cm và 01 bình phun thuốc trừ sâu (loại bình bơm điện ắc quy thông minh MV-18L do “Công ty TNHH T sản xuất mùa vàng”) mang ra bãi trồng cây của nhà ông giấu. Sau đó, lại nhà kho thì thấy một đoạn dây điện dài khoảng 50 mét bên trong có lõi bằng đồng, bên ngoài bọc nhựa màu đen được căng dọc từ nhà kho ra hàng rào của nhà ông không có điện nên Ddùng tay tháo đoạn dây điện trên xuống mang ra ngoài bãi trồng cây của nhà ông dao tách phần nhựa bên ngoài của dây điện để lấy lõi đồng bên trong. Sau khi được hết phần nhựa bên ngoài ra thì Dđể con dao cùng với thanh kim loại dùng để phá khóa trước đó tại bãi nhà ông Dquấn dây đồng thành cuộn và mang cuộn dây đồng trên cùng với 01 chiếc xà beng; 01 bình phun thuốc trừ sâu trộm cắp được đi về nhà cất giấu.

Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 26/12/2023, Nguyễn Văn D bộ một mình đến nhà anh Nguyễn Văn N năm 1989 (ở cùng thôn với thấy cửa nhà chính của gia đình anh ngoài, không có người ở nhà nên sinh ý định trộm cắp tài sản mang đi bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Khi đi vào bên trong sân Dquan sát thấy cửa nhà ngang của gia đình anh nên đi vào bên trong lấy 01 chiếc cân đồng hồ loại cân 100 kilôgam do “Nhơn Hòa” sản xuất; 01 máy cắt cỏ chạy xăng Husqvarna 226R, do Trung Quốc sản xuất; 01 chiếc xoong có nắp đậy (vung xoong) có trọng lượng 03kg, đường kính 30cm (được làm bằng nhôm) và 01 chiếc xoong có nắp đậy (vung xoong) có trọng lượng 03kg, đường kính 40cm (được làm bằng nhôm) mang ra ngoài. Sau đó, về nhà lấy 01 chiếc xà beng; 01 cuộn dây đồng (là tài sản mà cắp được tại nhà ông ngày 25/12/2023) cùng với số tài sản Dđã trộm cắp được của gia đình anh đến bán cho anh Nguyễn Văn N năm 1992, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giangđược số tiền là 1.200.000 đồng, số tiền này ăn tiêu cá nhân hết. Sau khi anh mua cân đồng hồ loại cân 100 kilôgam do “Nhơn Hòa” sản xuất của thì anh nhà anh và thấy giống chiếc cân đồng hồ nhà mình bị mất nên đã mua lại chiếc cân này với giá 300.000 đồng mang về nhà sử dụng.

Ngày 05/01/2024, ông Khúc Ngọc Q đơn trình báo đến Công an xã Đ thời giao nộp 01 chiếc kìm điện.

Ngày 07/01/2024, Công an xã Đ của anh Nguyễn Văn N tài sản sau: 01 máy cắt cỏ chạy xăng Husqvarna 226R, do Trung Quốc sản xuất; 02 nồi kim loại màu trắng bạc; 01 xà beng bằng kim loại màu đen. Đồng thời tạm giữ của Nguyễn Văn D bình phun thuốc trừ sâu.

Ngày 12/01/2024, Công an xã Đ bàn giao hồ sơ vụ việc và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y điều tra theo quy định.

Ngày 24/01/2024, anh Nguyễn Văn N đơn trình báo đến Công an huyện Y.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ykết luận:

- Giá trị của các tài sản đủ điều kiện định giá trên tại thời điểm định giá ngày 25 tháng 12 năm 2023 và ngày 26 tháng 12 năm 2023 là 2.120.000 đồng (Hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Trong đó:

+ 01 (một) thanh kim loại (xà beng) có chiều dài 147 cm, một đầu nhọn, một đầu bẹt, đường kính 2,5cm có giá trị 120.000 đồng;

+ 01 (một) bình bơm điện ắc quy thông minh MV-18L do “Công ty TNHH T sản xuất mùa vàng” có giá trị 300.000 đồng;

+ 01 (một) máy cắt cỏ chạy xăng Husqvarna 226R, do Trung Quốc sản xuất; có đầy đủ phụ kiện; hiện máy đang hoạt động bình thường có giá trị 1.500.000 đồng;

+ 01 (một) chiếc cân đồng hồ loại cân 100 kilôgam do “Nhơn Hòa” sản xuất, hiện vẫn hoạt động bình thường có giá trị 200.000 đồng.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ykết luận: Giá trị của tài sản yêu cầu định giá 02 chiếc xoong trên tại thời điểm định giá ngày 25, 26 tháng 12 năm 2023 là 180.000 đồng (Một trăm tám mươi nghìn đồng).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ykết luận: Giá trị của tài sản 01 khoá cửa, loại khoá Việt T(loại cỡ nhỡ) trên tại thời điểm định giá ngày 25/12/2023 là: 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).

Đối với 01 cuộn dây điện có chiều dài 50 mét bên trong có lõi bằng đồng, bên ngoài bọc nhựa màu đen thì Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y tiến hành định giá do thông tin tài sản yêu cầu định giá cung cấp chưa đầy đủ (nguồn gốc, chủng loại, thông số kỹ thuật, ...).

Với nội dung vụ án như trên, tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 10- 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam ngày 24/02/2024.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi mình là trái pháp luật và ăn năn, hối cải. Đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, những người tham gia tố tụng và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, bản kiểm điểm, bản tường trình, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Trong hai ngày 25/12/2023 và ngày 26/12/2023; Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang(là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích) đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giangvới tổng giá trị tài sản là 2.300.000 đồng, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, tại nhà kho của ông Khúc Ngọc Q- sinh năm 1962 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn D có hành vi trộm cắp 01 thanh kim loại (xà beng) có chiều dài 147cm, một đầu nhọn, một đầu bẹt, đường kính 2,5cm có giá trị 120.000 đồng; 01 (một) bình phun thuốc trừ sâu loại bơm điện ắc quy thông minh MV-18L do “Công ty TNHH T sản xuất mùa vàng” có giá trị 300.000 đồng và 01 cuộn dây điện có chiều dài 50 mét bên trong có lõi bằng đồng, bên ngoài bọc nhựa màu đen không định giá được giá trị. Tổng giá trị tài sản là 420.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/12/2023, tại nhà ngang của anh Nguyễn Văn N sinh năm 1989 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn D có hành vi trộm cắp 01 máy cắt cỏ chạy xăng Husqvarna 226R, do Trung Quốc sản xuất có giá trị 1.500.000 đồng; 01 (một) chiếc cân đồng hồ loại cân 100 kilôgam do “Nhơn Hòa” sản xuất có giá trị 200.000 đồng; 02 chiếc xoong có giá trị 180.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 1.880.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có hành vi lén lút đối với chủ sở hữu tài sản nhằm lợi dụng sơ hở của họ để thực hiện với lỗi cố ý chiếm đoạt tài sản của bị hại, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mặc dù định lượng tài sản mà bị cáo đã trộm cắp tài sản tại nhà ông Khúc Ngọc Q với giá trị là 420.000 đồng và nhà anh Nguyễn Văn N với giá trị là 1.880.000 đồng mỗi lần đều không đủ định lượng 2.000.000 đồng nhưng bị cáo là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích (Bản án số 69/2021/HSST ngày 21/12/2021). Do bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục trộm cắp nên lần phạm tội này đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS.

3.Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Khúc Ngọc Qanh Nguyễn Văn N người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N không yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với số vật chứng thu giữ được gồm: 01 xà beng, 01 bình phun thuốc trừ saau, 01 chiếc kìm điện, 01 máy cắt cỏ, 02 chiếc xoong là của các bị hại nên ngày 27/3/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho ông Q anh N lđúng.

- Đối với 01 cuộn dây điện có chiều dài 50 mét bên trong có lõi bằng đồng, bên ngoài bọc nhựa màu đen Dtrộm cắp được nhà ông mang bán cho anh Nguyễn Văn N đó anh N có bán lại cho một người phụ nữ không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu hồi được cuộn dây điện này; thanh kim loại Dđể cậy phá ổ khoá cửa và con dao Ddùng để tách vỏ dây điện Dđã để lại bãi cây nhà ông QCơ quan điều tra Công an huyện Y truy tìm các vật chứng này nhưng không thu hồi được. Đối với 01 ổ khóa bị hỏng ông vứt đi nhưng không nhớ vứt ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xử lý được.

- Đối với anh Nguyễn Văn N người mua tài sản của Nguyễn Văn D anh N không biết những tài sản này do tội mà có nên anh N không vi phạm pháp luật.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận: Buổi chiều ngày 26/12/2023, D mua ma tuý của một người thanh niên không quen biết tại khu vực Thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giangvới số tiền 200.000 đồng và sử dụng ma tuý tại đó. Ngày 26/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y trao đổi thông tin trên đến Công an huyện L xác minh và xử lý theo thẩm quyền là đúng.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D chịu 200.000 đồng án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

1.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D (mười một) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24/02/2024. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D chịu 200.000 đồng án phí HSST.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - Công an huyện Yên Thế;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Duyên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hải Đăng Nguyễn Thị CươngNguyễn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dũng trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger