|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 22/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tấn Quốc và ông Trần Văn Cường
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quỳnh và ông Dương Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa hình sự sơ thẩm vào ngày 16/4/2024, đối với các bị cáo:
-
Trần Quang H1, tên gọi khác: L, sinh ngày 22/9/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], cấp ngày 08/5/2021 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C1 cấp; Nơi ĐKNKTT: số I đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở: kiệt A đường M, tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang M và bà Trần Thị H2; Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con đầu; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Quá trình nhân thân: Còn nhỏ sống với gia đình tại số nhà I đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, học văn hóa đến lớp 8 thì nghỉ học. Năm 2018 ở nhà phụ giúp gia đình, học rồi nghề cắt tóc cho đến ngày phạm tội (10/12/2023).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2023; đến ngày 19/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
-
Ngô Tấn T, tên gọi khác: B, sinh ngày 23/9/2006 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Tại thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 3 tháng 13 ngày; số CCCD: [...], cấp ngày 13/5/2021 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C1 cấp; Nơi cư trú: số A đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Tấn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Gia đình có 03 anh, em ruột, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: chưa có; Tiền án: 01;Tiền sự: không. Ngày 17/8/2023, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 1 năm 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 3 năm 6 tháng, về tội: “Cướp tài sản” (Bản án số: 65/2023/HS-PT ngày 17/8/2023).
Quá trình nhân thân: Còn nhỏ sống với gia đình, học văn hóa đến lớp 6 thì nghỉ học ở nhà. Sau đó, học nghề cắt tóc.
Ngày 17/8/2023, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 1 năm 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 3 năm 6 tháng, về tội: “Cướp tài sản” (Bản án số: 65/2023/HS-PT ngày 17/8/2023).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2023; đến ngày 19/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Tấn T: Bà Nguyễn Thị T2 và ông Ngô Tấn T1 (Là mẹ cha của bị cáo T). Địa chỉ: Số A đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, đều có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Tấn T: Ông Nguyễn Văn C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Tấn D, bà Nguyễn Thị T2; Địa chỉ: Số A đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, đều có mặt.
- Người làm chứng:
- +Anh Ngô Văn L1; Địa chỉ: Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- + Anh Phùng Đức P; Địa chỉ: Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Mạnh D1; Địa chỉ: 3 đường L, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 08/12/2023, Trần Quang H1 đến tại khu vực đường H, thuộc địa bàn thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (không nhớ rõ địa điểm cụ thể) gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch), tên thường gọi là T3 để mua 05 viên ma tuý loại “thuốc lắc” và “nữa hộp năm” ma tuý loại “khay” với giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), rồi cất giấu trong người nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Khoảng 12 giờ ngày 10/12/2023, có một đối tượng mà H1 quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) tên thường gọi là L2 gọi điện thoại cho H1 qua ứng dụng M1 nói: “Có người đặt mua 5 viên thuốc lắc và nữa hộp năm, chốt được không”, H1 trả lời: “Ok, bốn triệu”. Nghe vậy thì L2 nói khách hẹn đến T để giao ma túy, còn địa điểm cụ thể ở đâu thì để L2 hỏi lại rồi báo cho H1 sau.
Trong lúc chờ người mua ma túy liên lạc, khoảng 14 giờ cùng ngày, H1 đến nhà của Ngô Tấn T rồi nói với T “Đi đơn”, T hiểu là đi bán ma tuý nên trả lời: “Ữ”, T hỏi tiếp H1: “Đi đơn chỗ mô”, H1 trả lời: “Đi đến dưới Thủy D2”. Sau đó, H1 lấy từ trong người ra 05 viên ma tuý loại “thuốc lắc” và “nữa hộp năm” ma tuý loại “khay” bỏ vào một khẩu trang y tế màu trắng, cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc trên người rồi nói với T là bán số ma tuý này với giá 4.000.000 đồng. Do trước đây, có vài lần T chở H1 đi bán ma tuý nên T hỏi H1: “Đi bằng cái gì”, H1 trả lời: “Đi Taxi”, T nói: “Gần ri, đi Taxi làm chi, để tau mượn xe máy chở đi” thì được H1 đồng ý. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, L2 nhắn số điện thoại của người cần mua ma túy là 0763555116 cho H1 để H1 liên hệ. H1 sử dụng điện thoại của H1 số thuê bao 0364650729 gọi đến số 0763555116 và được người này hẹn đến phường T để giao dịch mua bán ma tuý. Sau đó, T đã lấy xe mô tô biển kiểm soát: 75F1-400.15 (xe của bà Nguyễn Thị T2 là mẹ của T) chở H1 đi bán ma tuý. Trên đường đi, H1 đã liên lạc với người mua ma tuý thì người này hẹn đến khu vực chung cư M, phường T, thị xã H để giao dịch. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, khi T chở H1 đến ngã tư đường số D - P, thuộc tổ E, phường T, thị xã H thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện bắt quả tang.
Kết quả thử nước tiểu trong cơ thể của Trần Quang H1 cho kết quả: Dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine; Ngô Tấn T dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine và MDMA.
Vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm:
- 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng bên trong có chứa 05 (năm) viên nén đều có màu nâu (không rõ hình dạng) và 01 túi nilông màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus, màu bạc, IMEI: 354452066469409, bên trong có gắn sim số thuê bao: 0364650729, số sê ri: C39Q449LG5QJ (điện thoại đã cũ, qua sử dụng và màn hình bị nứt vỡ) thu giữ của Trần Quang H1;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Prime, màu vàng đồng, số IMEI 1: 355228086991740, số IMEI 2: 355229086991748, bên trong có gắn sim số thuê bao: 0762565036, số sê ri: R58J151JR8P (điện thoại đã cũ, qua sử dụng và màn hình bị nứt vỡ) thu giữ của Ngô Tấn T;
- 01 (một) xe môtô biển số: 75F1- 400.15, nhãn hiệu HONDA, loại VISION, màu đen, số máy: JF58E0813226, số máy: 5800EY813173, kèm theo chìa khoá xe.
Tại bản kết luận giám định số: 762 /KL-KTHS ngày 14/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận:
- 05 (Năm) viên nén đều có màu nâu gửi giám định có tổng khối lượng là: 2,2916g (Hai phẩy hai chín một sáu gam) là ma túy, loại MDMA;
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là: 1,4954g (Một phẩy bốn chín năm bốn gam), là ma túy, loại Ketamine. (BL: 72);
- H3 lại đối tượng giám định gồm:
- 2,1416 g (hai phẩy một bốn một sáu gam) mẫu bột được nghiền từ 05 (năm) viên nén đều có màu nâu gửi giám định.
- 1,3954 g (một phẩy ba chín năm bốn gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định.
- Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra chứng minh: xe môtô biển số: 75F1- 400.1573, chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T2 (mẹ của Ngô Tấn T). Việc T tự ý lấy chiếc xe trên làm phương tiện đi bán ma túy thì bà T2 không biết nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho bà T2 là có căn cứ.
Đối với điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Prime là tài sản của anh Ngô Tấn D (anh trai T) cho T mượn sử dụng. Qua trích xuất không có dữ liệu liên quan đến vụ án, T cũng không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra cũng đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định pháp luật.
Các vật chứng còn lại chuyển cho Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã H để phục vụ cho việc xét xử và thi hành án. (BL:80-81; 86-87);
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS-HTh ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Trần Quang H1 và Ngô Tấn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Trần Quang H1 và Ngô Tấn T đều phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng các khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Quang H1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Ngô Tấn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo của bản án hình sự phúc thẩm số 65/2023/HS-PT ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình phạt chung bị cáo Ngô Tấn T phải chịu là : 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với:
- 2,1416g là ma túy, loại nghiền từ 05 viên nén đều có màu nâu.
- 1,3954g là ma tuý, loại Ketamine mẫu tinh thể rắn màu trắng cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định;
Tất cả được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Đình Quang V, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Trần N, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh T và dòng chữ: “Hoàn lại mẫu vật vụ Trần Quang H1, Ngô Tấn T, bắt ngày 10/12/2023”.
Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus, màu bạc, số IMEI: 354452066469409, bên trong có sim điện thoại số: 0364.650.xxx, số sêri: C39Q449LG5QJ của bị cáo Trần Quang H1 dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Ngô Tấn T: Nhất trí với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc và xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng đối với người chưa thành niên phạm tội để cho bị cáo hưởng mức án là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 10/12/2023, tại ngã tư đường số D - P, thuộc tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Ngô Tấn T điều khiển xe mô tô 75F1-400.15 chở Trần Quang H1 đang cất giấu trong người 2,2916g (hai phẩy hai chín một sáu gam) ma túy, loại MDMA và 1,4954g (một phẩy bốn chín năm bốn gam) ma túy, loại Ketamine đang đi bán trái phép cho người khác nhằm thu lợi bất chính thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang.
Trần Quang H1 và Ngô Tấn T có hành vi bán trái phép 02 chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, nên việc tính tổng khối lượng để xác định tình tiết định khung hình phạt được tính như sau:
- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu MDMA quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (2,2916/05g) x 100 = 45,832%;
- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu Ketamine quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (1,4954/20g) x 100 = 7,477%.
Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của hai chất ma túy trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: 45,832% + 7,477% = 53,309% (thuộc trường hợp dưới 100%) nên hành vi của các bị cáo Trần Quang H1 và Ngô Tấn T, đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị Trần Quang H1 và Ngô Tấn T là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, gây nguy hiểm cho xã hội, việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trái phép, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Nhưng vì bản tính lười lao động, xem thường pháp luật mà các bị cáo vẫn thực hiện hành vi gieo rắc cái chết trắng để kiếm lợi bất chính. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Quang H1 phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ngô Tấn T không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Quang H1 có nhân thân tốt; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Trần Quang H1 và Ngô Tấn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó, Trần Quang H1 là người chủ mưu trực tiếp mua ma túy để bán; Ngô Tấn T là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực cho H1 thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy. Do đó, bị cáo H1 phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm. Vì vậy, cần có mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung. Các bị cáo hiện có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo Ngô Tấn T phạm tội khi đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe môtô biển số: 75F1- 400.1573, quá trình điều tra chứng minh: chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T2 (mẹ của Ngô Tấn T). Việc T tự ý lấy chiếc xe trên làm phương tiện đi bán ma túy thì bà T2 không biết nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho bà T2 là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Prime là tài sản của anh Ngô Tấn D (anh trai T) cho T mượn sử dụng. Qua trích xuất không có dữ liệu liên quan đến vụ án, T cũng không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra cũng đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với: 2,1416g là ma túy, loại MDMA, mẫu bột được nghiền từ 05 viên nén đều có màu nâu và 1,3954g là ma tuý, loại Ketamine mẫu tinh thể rắn màu trắng cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Do đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus, màu bạc, số IMEI: 354452066469409, bên trong có sim điện thoại số: 0364.650.xxx, số sêri: C39Q449LG5QJ của bị cáo Trần Quang H1 dùng để liên lạc mua bán ma túy. Do đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Quang H1 và Ngô Tấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Trần Quang H1 và Ngô Tấn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng các điểm khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang H1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/12/2023
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Ngô Tấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo của bản án hình sự phúc thẩm số 65/2023/HS-PT ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình phạt chung bị cáo Ngô Tấn T phải chịu là : 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/12/2023, nhưng được được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 14/8/2022 đến ngày 06/01/2023.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 2,1416g là ma túy, loại MDMA, mẫu bột được nghiền từ 05 viên nén đều có màu nâu.
- 1,3954g là ma tuý, loại Ketamine mẫu tinh thể rắn màu trắng cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định;
Tất cả được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Đình Quang V, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Trần N, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh T và dòng chữ: “Hoàn lại mẫu vật vụ Trần Quang H1, Ngô Tấn T, bắt ngày 10/12/2023”.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus, màu bạc, IMEI: 354452066469409, bên trong có gắn sim số thuê bao: 0364650729, số sê ri: C39Q449LG5QJ (điện thoại đã cũ, qua sử dụng và màn hình bị nứt vỡ) thu giữ của Trần Quang H1.
Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Quang H1 và Ngô Tấn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Trần Thị Phương Thảo
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quang H, tên gọi khác: L, sinh ngày 22/9/2005 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT: số I đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở: kiệt A đường M, tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Ngô Tấn T, tên gọi khác: B, sinh ngày 23/9/2006 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Tại thời điểm phạm tội bị cáo 17 tuổi 3 tháng 13 ngày; Nơi cư trú: số A đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế
