|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/DS-ST Ngày: 22- 4 -2024 |
|
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thu Thủy
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Hồng
- Ông Nguyễn Văn Tư
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 180/2023/TLST-DS ngày 30/10/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-DS ngày 01/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1 (N).
Địa chỉ trụ sở chính: Số B L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:
- Bà Vũ Thị Lan V, sinh năm 1991
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 2000
- Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1990
Địa chỉ: Số A đường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
Địa chỉ: Số A N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
Địa chỉ: B L, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt)
(Theo Văn bản ủy quyền số 535/2023/UQ-NCB ngày 28/8/2023)
* Bị đơn:
- Anh Trần Văn L, sinh năm 1998 (vắng mặt)
- Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/8/2023, bản tự khai và diễn biến tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1, do bà Vũ Thị Lan V đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP Q1 (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng hạn mức cho vay số 063/22/HĐHM-9385 ngày 12/4/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 085/KUNN/063/22/HĐHM-9385 ngày 13/4/2022 với anh Trần Văn L và chị Ngô Thị H1. Với nội dung: Ngân hàng đã giải ngân cho anh L, chị H1 số tiền: 720.000.000 đồng; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày 12/4/2022; lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng hạn mức cho vay số 063/22/HĐHM-9385 ngày 12/4/2022 và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 085/KUNN/063/22/HĐHM-9385 ngày 13/4/2022, Ngân hàng với anh L, chị H1 đã ký hợp đồng thế chấp số 063/22/HĐTC- 9385 ngày 12/4/2022, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 7, diện tích 97,25m2, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO211993 ngày 03/4/2013, vào sổ cấp giấy H00272/QĐ số 975/QĐ-UBND T16/Q3 cho hộ ông Trần Văn L1, ngày 23/4/2018 tặng cho anh Trần Văn L.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh L, chị H1 đã trả Ngân hàng được số tiền 166.301.623 đồng, trong đó trả nợ gốc 104.651.397 đồng, trả nợ lãi: 61.650.226 đồng. Nay anh L, chị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi nên toàn bộ khoản vay trên chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 15/4/2023. Ngân hàng đã thông báo trả nợ nhiều lần nhưng anh L, chị H1 không thanh toán được nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh L, chị H1 thanh toán trả Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/4/2024, số tiền nợ gốc là: 615.348.603 đồng; nợ lãi: 4.585.660; lãi quá hạn: 158.945.217 đồng, phí phạt chậm trả: 586.307 đồng, tổng nợ: 779.465.787 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo 23/4/2024 đến khi thanh toán xong.
Nếu anh L, chị H1 không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền đề nghị phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng.
- Tại bản tự khai ngày 29/11/2023 anh Trần Văn L xác nhận có việc lập hợp đồng vay Ngân hàng TMCP Q1 và thế chấp quyền sử dụng đất như trên, tuy nhiên do làm ăn thua lỗ nên chưa có tiền trả nợ Ngân hàng, đề nghị Ngân hàng miễn cho tiền lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong cả quá trình tố tụng, đảm bảo đúng quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Anh L2, chị H1 không chấp hành nghiêm chỉnh, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228, 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 90, 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng; các điều 24, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc anh Trần Văn L và chị Ngô Thị H1 thanh toán trả Ngân hàng TMCP Q1 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/4/2024 theo Hợp đồng hạn mức cho vay số 063/22/HĐHM-9385 ngày 12/4/2022 gồm: Số tiền nợ gốc: 615.348.603 đồng; nợ lãi: 4.585.660, lãi quá hạn: 158.945.217 đồng, phí phạt chậm trả: 586.307 đồng, tổng nợ: 779.465.787 đồng và tiếp tục phải trả lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày tiếp theo 23/4/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh L, chị H1 không thanh toán trả nợ Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền đề nghị phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
Về án phí và chi phí tố tụng: Anh L2, chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ tài sản. Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn là Trần Văn L và chị Ngô Thị H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Q1 khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn L và chị Ngô Thị H1 trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Anh L2, chị H1 cư trú tại xã T, thành phố B nên tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Q1 với anh L2, chị H1 là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Ngân hàng TMCP Q1 (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng hạn mức cho vay số 063/22/HĐHM-9385 ngày 12/4/2022 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 085/KUNN/063/22/HĐHM-9385 ngày 13/4/2022 với anh Trần Văn L và chị Ngô Thị H1. Với nội dung: Ngân hàng đã giải ngân cho anh L, chị H1 số tiền: 720.000.000 đồng; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày 12/4/2022; lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng hạn mức cho vay số 063/22/HĐHM-9385 ngày 12/4/2022 và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 085/KUNN/063/22/HĐHM-9385 ngày 13/4/2022, Ngân hàng với anh L, chị H1 đã ký hợp đồng thế chấp số 063/22/HĐTC- 9385 ngày 12/4/2022, hợp đồng đã được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ: Số B, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Theo đó anh L, chị H1 đã dùng tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng đã ký là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 7, diện tích 97,25m2 tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO211993 ngày 03/4/2013, vào sổ cấp giấy H00272/QĐ số 975/QĐ-UBND T16/Q3 cho hộ ông Trần Văn L1, ngày 23/4/2018 tặng cho anh Trần Văn L.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh L, chị H1 đã trả Ngân hàng tổng số tiền 166.301.623 đồng, trong đó trả gốc 104.651.397 đồng, trả lãi: 61.650.226 đồng. Anh L2, chị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/4/2023 nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh L2, chị H1 thanh toán nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/4/2024 gồm: Số tiền nợ gốc: 615.348.603 đồng; nợ lãi: 4.585.660, lãi quá hạn: 158.945.217 đồ ng, phí phạt chậm trả: 586.307 đồng, tổng nợ: 779.465.787 đồng và tiếp tục phải trả lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày tiếp theo 23/4/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Hội đồng xét xử thấy:
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đề nghị anh L2, chị H1 phải thanh toán theo Hợp đồng hạn mức cho vay số 063/22/HĐHM-9385 ngày 12/4/2022 và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 085/KUNN/063/22/HĐHM-9385 ngày 13/4/2022, với tổng số tiền là: 779.465.787 đồng, trong đó tiền nợ gốc là: 615.348.603 đồng; nợ lãi: 4.585.660, lãi quá hạn: 158.945.217 đồng, phí phạt chậm trả: 586.307 đồng là có căn cứ theo quy định tại các điều 90, 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ, căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 của BLDS; Điều 3, Điều 7 Nghị quyết số 42/2017 QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc H2 về thí điểm xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản tại Hợp đồng thế chấp số 063/22/HĐTC-9385 ngày 12/4/2022. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 7, diện tích 97,25m2 tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
[4] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng đã nộp 5.000.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và đã chi phí hết. Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên anh L2, chị H1 phải chịu 5.000.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và thanh toán trả Ngân hàng.
[5] Về án phí: Anh L2, chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 20.000.000 đồng + 379.465.787 đồng x 4%= 35.178.631 đồng
Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Buộc anh Trần Văn L và chị Ngô Thị H1 thanh toán trả Ngân hàng TMCP Q1 theo Hợp đồng hạn mức cho vay số 063/22/HĐHM-9385 ngày 12/4/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/4/2024 tổng số tiền là: 779.465.787 đồng, trong đó tiền nợ gốc là: 615.348.603 đồng; nợ lãi: 4.585.660, lãi quá hạn: 158.945.217 đồng, phí phạt chậm trả: 586.307 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Anh L2, chị H1 phải chịu 5.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và thanh toán trả Ngân hàng.
- Về án phí: Anh L2, chị H1 phải chịu 35.178.631 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Và tiếp tục phải trả lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày tiếp theo 23/4/2024 đến khi thanh toán xong.
Trường hợp anh L, chị H1 không thanh toán trả nợ Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 80, tờ bản đồ số 7, diện tích 97,25m2 tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO211993 ngày 03/4/2013, vào sổ cấp giấy H 00272/QĐ số 975/QĐ-UBND T16/Q3 cho hộ ông Trần Văn L1, ngày 23/4/2018 tặng cho anh Trần Văn L
Trả lại Ngân hàng TMCP Q2 tiền 15.865.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000180 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Thu Thuỷ |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng - Linh
