Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH THƯỢNG

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày: 21/8/2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Phước Tỷ - Giám đốc Trung tâm Văn hóa, thể thao và truyền thanh huyện U Minh Thượng.

2. Ông Phan Quốc Toàn – Phó bí thư Huyện đoàn huyện U Minh Thượng.

Thư ký phiên tòa: Bà Quách Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Minh Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với:

* Bị cáo

1. Họ và tên: Trần Trường G; - Giới tính: Nam;

- Tên gọi khác: không;

- Sinh ngày 01 tháng 01 năm 2006, tại huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Khmer; - Tôn giáo: không;

- Nghề nghiệp: Lao động tự do.

- Trình độ học vấn: 3/12

- Họ tên cha: Trần Minh H, sinh năm 1978;

- Họ tên mẹ: Phạm Thị L, sinh năm: 1980;

- Vợ, con: chưa có;

- Anh chị em: có 02 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2017;

- Tiền án: không;

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 23/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G2, thời hạn 18 tháng.

Bị cáo được tại ngoại điều tra, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Tạ Chí N; - Giới tính: Nam;

- Tên gọi khác: không;

- Sinh ngày 20 tháng 12 năm 2005, tại huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: không;

- Nghề nghiệp: Lao động tự do.

- Trình độ học vấn: 7/12;

- Họ tên cha: Tạ Văn H1, sinh năm 1978;

- Họ tên mẹ: Nguyễn Ánh T, sinh năm: 1982;

- Vợ, con: chưa có;

- Anh chị em: có 01 người, sinh năm 2009;

- Tiền án: không;

- Tiền sự: không.

Bị cáo được tại ngoại điều tra, bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Trần Trường S; - Giới tính: Nam;

- Tên gọi khác: không;

- Sinh ngày 06 tháng 11 năm 2007, tại huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Khmer; - Tôn giáo: không;

- Nghề nghiệp: Lao động tự do.

- Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không;

- Trình độ học vấn: 3/12

- Họ tên cha: Trần Minh H, sinh năm 1978;

- Họ tên mẹ: Phạm Thị L, sinh năm: 1980;

- Vợ, con: chưa có;

- Anh chị em: có 02 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2017;

- Tiền án: không;

- Tiền sự: 01, Ngày 10/01/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng.

Bị cáo được tại ngoại điều tra, bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Trường S: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1980 và ông Trần Minh H, sinh năm 1978.

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện T, tỉnh Cà Mau (Bà L – có mặt, ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt )

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Trường S đồng thời là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Quốc P: Ông Trần Tuấn A là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K (Có mặt).

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982 và bà Đặng Thị T1, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

(Ông Đ – có mặt; Bà T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang. (Ông T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

+ Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Ông K - vắng mặt)

+ Ông Tạ Văn H1, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Ông H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

+ Võ Quốc P, sinh ngày 21/3/2008;

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

Người đại diện của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Quốc P: Bà Võ Thị M, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ ngày 19/02/2024 Võ Quốc P điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 68M1-156.01 (xe P mượn của người quen là ông Nguyễn Văn K để làm phương tiện đi lại) chở GS, còn Tạ Chí N điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 68S5-9261 (xe của cha N là ông Tạ Văn H1) đến cửa hàng bán tạp hoá của vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Đặng Thị T1 ở đầu Kênh A thuộc ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang để lấy trộm tủ lạnh, do chiếc tủ lạnh lớn khó chuyên chở nên P kêu NS đi đến nhà ông T2 mượn chiếc xe mô tô cũ có gắn chiếc giá đỡ phía sau xe để chuyên chở hàng hóa, ông T2 thường để ở trước sân không có đem vào nhà cất giữ để làm phương tiện chở chiếc tủ lạnh lấy trộm xong rồi trả lại. Nguyên mới điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68S5-9261 chở S đi đến nhà ông T2. Khi đến nơi, nhà ông T2 đã đóng cửa, phía trước sân nhà có để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel mang biển kiểm soát 69K2-7587 có gắn chiếc giá đỡ bằng kim loại phía sau, chìa khóa gắn sẵn trên ổ khóa xe. Nguyên đưa chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68S5- 9261 cho S điều khiển, rồi N đi vào lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K2-7587 chạy về gặp PG. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, P dẫn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K2-7587 đi đến dựng trước nhà của vợ chồng ông Đ. SN đứng ngoài lộ cảnh giới, còn PG lén lút đi vào lấy trộm tài sản. G cùng với P khiêng chiếc tủ lạnh nhãn hiệu Alaska bên trong tủ đang đựng 200 cây kem quặng lớn, 200 cây kem quặng nhỏ, 250 cây kem loại kem cây, 01 thùng kem Socola 30 cây và 01 thùng nước uống tăng lực Rồng Đỏ, đem ra ngoài rồi để lên chiếc giá đỡ trên xe mô tô biển kiểm soát 69K2-7587 và dùng dây có sẵn trên xe ràng buộc cố định tủ lạnh lại. Sau đó, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69K2-7587 chở chiếc tủ lạnh đi theo tuyến lộ nhựa bờ bao qua Kênh 12 rẫy đến cầu treo xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68M1-156.01 chở S, còn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68S5-9261 cùng đi theo sau P. Khi đến cầu treo xã B, do không biết chỗ bán chiếc tủ lạnh nên P dừng xe lại rồi đưa chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K2-7587 để G chạy chở đi bán, còn P, N, S cùng đi theo sau G. Khi đi đến đoạn gần chợ T5, huyện T, G, P, S, N dừng xe lại trên lộ. Sau đó, GP khiêng chiếc tủ lạnh vào con hẻm có vựa thu mua phế liệu để bán, còn NS đứng ngoài xe đợi. GP đi vào một vựa thu mua phế liệu tại khu vực chợ T5 bán chiếc tủ lạnh cho một người đàn ông lạ mặt được số tiền 1.000.000 đồng, rồi lấy số kem và thùng nước uống tăng lực mang về. Khi đi về đến cầu K xã B thì số kem bị tan chảy nên P ném bỏ toàn bộ số kem xuống sông, rồi tiếp tục điều khiển xe chở G về nhà của P. Còn N điều khiển chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 69K2-7587 và S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68S5-9261 cùng nhau đi đến nhà của ông Trần Quốc T2 để trả lại chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 69K2-7587 cho ông T2. Sau đó, P, N, GS đi đến quán “Tứ Sắc” ở ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, để nhậu. P lấy thùng nước tăng lực Rồng Đỏ đã trộm chia nhau ra uống và lấy số tiền đã bán chiếc tủ lạnh chia cho G 300.000 đồng, SN mỗi người được 200.000 đồng, còn P lấy 300.000 đồng. P, G, SN hùn tiền nhậu tiêu xài hết.

Quá trình điều tra, ngoài việc khai nhận đã trộm cắp tài sản của vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ và bà Đặng Thị T1 vào ngày 19/02/2024 thì vào ngày 14/02/2024 Võ Quốc P, Tạ Chí N, Trần Trường GTrần Trường S còn thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc tủ lạnh của tiệm tạp hóa nhà bà Lê Thị H2 ở ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Ngày 17/4/2024 và 07/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U đã có văn bản thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cà Mau biết để phối hợp giải quyết theo quy định. Tại văn bản phúc đáp số 181 ngày 05/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phản hồi hiện vụ việc đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thụ lý giải quyết trong giai đoạn nguồn tin về tội phạm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U, kết luận tài sản tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 19/02/2024 có giá trị như sau:

  • 01 (một) tủ lạnh, loại tủ đông, nhãn hiệu ALASKA Model: KC210, công suất 230W, đã qua sử dụng, có giá trị là 7.000.000 đồng.
  • 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng có giá trị là 1.600.000 đồng.
  • 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, có giá trị là 800.000 đồng.
  • 250 (hai trăm năm mươi) cây kem, loại kem cây, có giá trị là 625.000 đồng.
  • 01 (một) thùng kem Socola gồm 30 cây, có giá trị là 160.000 đồng.
  • 01 (một) thùng nước uống đóng chai, nhãn hiệu “Nước tăng lực Rồng Đỏ” gồm 24 chai, có giá trị là 170.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.355.000 đồng.

Vật chứng thu giữ.

  • 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, mang biển kiểm soát 68M1-156.01, màu sơn đỏ – đen, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 68S5-9261, màu sơn xanh, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) giấy dăng ký xe mô tô, xe máy số 0029383 (của xe mô tô mang biển kiểm soát 68S5-9261).
  • 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel, màu sơn đỏ – đen – bạc, mang biển kiểm soát 69K2-7587, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0035648 (của xe mô tô mang biển kiểm soát 69K2-7587.

Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U đã Trả lại cho ông Nguyễn Văn K 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, mang biển kiểm soát 68M1-156.01, màu sơn đỏ – đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho ông Trần Quốc T2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel, màu sơn đỏ – đen – bạc, mang biển kiểm soát 69K2-7587, đã qua sử dụng; và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0035648 (của xe mô tô mang biển kiểm soát 69K2-7587); Trả lại cho ông Tạ Văn H1 01 chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 68S5-9261, màu sơn xanh, đã qua sử dụng, và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0029383 (của xe mô tô mang biển kiểm soát 68S5-9261) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSUMT ngày 08/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với Võ Quốc P, sinh ngày 21/3/2008, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 19/02/2024, thì Võ Quốc P chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển Công an huyện U xử lý vi phạm hành chính.

Đối với việc Tạ Chí NTrần Trường S lấy chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 69K2-7587 của ông Trần Quốc T2 thì mục đích là nhằm mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện chở tài sản trộm cắp của ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T3, không nhằm mục đích chiếm đoạt, sau khi chở tài sản trộm cắp đi bán xong đã đem trả lại ngay chiếc xe mô tô trên cho ông Trần Quốc T2, nên không xử lý.

Đối với người đàn ông đã mua chiếc tủ lạnh từ Nguyễn Trường G1Võ Quốc P, quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định được là ai nên không có cở sở xem xét xử lý.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Trường G từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tạ Chí N từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 100 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Trường S từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị hại ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu các bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí N, Trần Trường SVõ Quốc P mỗi bị cáo và P bồi thường là 2.588.750 đồng cho ông Đ và bà T3 đối với tổng số tiền bị xâm hại là 10.355.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Quốc T2, Nguyễn Văn KTạ Văn H1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.

Bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng đã truy tố. Các bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Bị hại ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu các bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí N, Trần Trường SVõ Quốc P mỗi bị cáo bồi thường là 2.588.750 đồng đối với tổng số tiền bị xâm hại là 10.355.000 đồng.

- Đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Trường S là bà Phạm Thị L: Không có ý kiến gì về lời trình bày của bị cáo S. Bà L thống nhất với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, bà L đồng ý cùng bị cáo S bồi thường thiệt hại số tiền 2.588.750 đồng cho ông Đ và bà T3.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Trần Trường S: Thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố và mức hình phạt đề nghị.

Bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, học vấn thấp và là người dân tộc thiểu số. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo S được hưởng mức hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Quốc P: Xác định có tham gia lấy trộm 01 chiếc tủ lạnh, loại tủ đông, nhãn hiệu ALASKA Model: KC210, công suất 230W, đã qua sử dụng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, 250 (hai trăm năm mươi) cây kem, loại kem cây, 01 (một) thùng kem Socola gồm 30 cây và 01 (một) thùng nước uống đóng chai, nhãn hiệu “Nước tăng lực Rồng Đỏ” cùng với bị cáo G, NS, P tự nguyện bồi thường cho ông Đ và bà T3 số tiền 2.588.750 đồng.

- Đại diện theo pháp luật của Võ Quốc P là bà Võ Thị M: Không có ý kiến gì về lời trình bày của P, thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, bà M đồng ý cùng P bồi thường cho ông Đ và bà T3 số tiền 2.588.750 đồng.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Quốc P: Thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đối với Võ Quốc P.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa:.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa qua kết quả thẩm vấn, lời khai của các bị cáo, bị hại cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng 01 giờ ngày 19/02/2024 Võ Quốc P cùng các bị cáo Trần Trường G, Trần Trường S, Tạ Chí N điều khiển xe mô tô đến nhà của ông Đ và bà T3 tại ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang để trộm cắp tài sản đến cách nhà ông Đ và bà T3 khoảng 50m thì dứng xe lại, P đi bộ lại nhà ông Đ quan sát thấy bên trong có 02 chiếc tủ lạnh. P quay lại xe và nói với các bị cáo là tủ lạnh lớn không có giá đỡ sẽ không chở được, biết nhà ông T2 có chiếc xe moto có giá đỡ ông T2 dùng để chở hàng tạp hoá thường để hàng hiên trước nhà nên P nói NS đi mượn xe của ông T2 để chở tủ lạnh lấy trộm xong rồi trả xe lại cho ông T2, NS đồng ý và đi lấy xe của ông T2 để làm phương tiện chở tủ lạnh. PG vào nhà ông Đ lấy trộm 01 chiếc tủ lạnh, loại tủ đông, nhãn hiệu ALASKA Model: KC210, công suất 230W, đã qua sử dụng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, 250 (hai trăm năm mươi) cây kem, loại kem cây, 01 (một) thùng kem Socola gồm 30 cây và 01 (một) thùng nước uống đóng chai, nhãn hiệu “Nước tăng lực Rồng Đỏ”, bị cáo NS ở ngoài xe đợi và cảnh giới. Tổng giá trị tài sản mà Võ Quốc P cùng các bị cáo Trần Trường G, Trần Trường S, Tạ Chí N đã lấy trộm theo kết luật định giá là 10.355.000 đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo N, GS đã có hành vi lợi dụng sở hở của chủ sở hữu tài sản, trong lúc tài sản không có người trong giữ để thực hiện trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Theo Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 29/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U, kết luận: 01 (một) tủ lạnh, loại tủ đông, nhãn hiệu ALASKA Model: KC210, công suất 230W, đã qua sử dụng, có giá trị là 7.000.000 đồng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng có giá trị là 1.600.000 đồng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, có giá trị là 800.000 đồng, 250 (hai trăm năm mươi) cây kem, loại kem cây, có giá trị là 625.000 đồng, 01 (một) thùng kem Socola gồm 30 cây, có giá trị là 160.000 đồng và 01 (một) thùng nước uống đóng chai, nhãn hiệu “Nước tăng lực Rồng Đỏ” gồm 24 chai, có giá trị là 170.000 đồng, T4 giá trị tài sản bị lấy trộm là 10.355.000 đồng. Vĩ vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm:

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động. Hành vi của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, gây hoang mang, lo ngại trong nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù các bị cáo có bàn bạc trước việc trộm cắp tài sản nhưng chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Nên khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo phải phù hợp, tương xứng với mức độ, tính chất, vai trò hành vi phạm tội của từng bị cáo.

+ Đối với bị cáo Trần Trường G: Bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo trực tiếp vào lấy trộm tài sản và mang đi bán. Xét về tính chất phạm tội của bị cáo trong vụ án này là nguy hiểm. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm đối với bị cáo tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi phạm tội, để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt sống có ích cho xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

+ Đối với bị cáo Tạ Chí N: Bị cáo không trực tiếp lấy trộm tài sản nhưng bị cáo tham gia tích cực trong việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo lấy phương tiện để chuyên chở tài sản bị lấy trộm được thuận lợi. Bị cáo thực hiện nhiệm vụ cảnh giới cho bị cáo G lấy trộm và bán tài sản trộm được. Xét về tính chất phạm tội của bị cáo trong vụ án này là nguy hiểm nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích.

+ Đối với bị cáo Trần Trường S: Bị cáo không trực tiếp lấy trộm tài sản nhưng bị cáo tham gia tích cực trong việc thực hiện hành vi, bị cáo hỗ trợ bị cáo N lấy phương tiện để chuyên chở tài sản bị lấy trộm được thuận lợi. Bị cáo thực hiện nhiệm vụ cảnh giới cho bị cáo G lấy trộm và bán tài sản. Xét về tính chất phạm tội của bị cáo trong vụ án này cũng nguy hiểm như bị cáo N. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên quyết định hình phạt phải đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó cũng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhưng nhẹ hơn bị cáo N.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Riêng bị cáo S và bị cáo G có tình tiết giảm nhẹ là có học vấn thấp và là người dân tộc thiểu số HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 đối với bị cáo S và bị cáo G.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng các bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, song xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Võ Quốc P và bị cáo Trần Trường S là đủ 15 tuổi nhưng PS không có tài sản riêng để bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại nên buộc người đại diện theo pháp luật của PS phải liên đới cùng PS bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự 2015.

Ghi nhận việc tự thoả thuận giữa bị hại ông ĐVõ Quốc P cùng các bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S mỗi người phải bồi thường số tiền 2.588.750 đồng cho bị hại ông Nguyễn Văn Đ và bà Đặng Thị T1 đối với tổng số tiền là 10.355.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Quốc T2, Nguyễn Văn KTạ Văn H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

[7] Về vật chứng:

Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U đã trả lại các vật chứng đã thu giữ cho chủ sở hữu do chủ sở hữu không có lỗi dùng vào việc phạm tội gồm: Trả cho ông Nguyễn Văn K 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, mang biển kiểm soát 68M1-156.01, màu sơn đỏ – đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho ông Trần Quốc T2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel, màu sơn đỏ – đen – bạc, mang biển kiểm soát 69K2-7587, đã qua sử dụng; và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0035648 (của xe mô tô mang biển kiểm soát 69K2-7587); Trả lại cho ông Tạ Văn H1 01 chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 68S5-9261, màu sơn xanh, đã qua sử dụng, và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0029383 (của xe mô tô mang biển kiểm soát 68S5-9261) nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, mức đề nghị bị cáo G xử phạt từ 7 tháng đến 9 tháng tù, bị cáo N xử phạt từ 6 tháng đến 09 tháng tù và bị cáo Trần Trường S mức phạt 12 – 18 tháng cải tạo không giam giữ là chưa tương xứng với hành vi, nhân thân của các bị cáo, đối với bị cáo S có nhân thân xấu và liên tục thực hiện hành vi trái pháp luật nên việc xử phạt bị cáo S cải tạo không giam giữ là ảnh hưởng đến công tác phòng, chống tội phạm nên HĐXX không chấp nhận..

[9] Đối với ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Trần Trường S về các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, 100 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp nên được chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo S có nhân thân xấu và liên tục thực hiện hành vi trái pháp luật việc xử phạt bị cáo S cải tạo không giam giữ là không có cơ sở.

[10] Các vấn đề khác:

Đối với Võ Quốc P quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thừa nhận ngày 19/02/2024 cùng các bị cáo G, NS lấy trộm 01 chiếc tủ lạnh, loại tủ đông, nhãn hiệu ALASKA Model: KC210, công suất 230W, đã qua sử dụng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, 200 (hai trăm) cây kem, loại kem quặng, 250 (hai trăm năm mươi) cây kem, loại kem cây, 01 (một) thùng kem Socola gồm 30 cây và 01 (một) thùng nước uống đóng chai, nhãn hiệu “Nước tăng lực Rồng Đỏ”, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp Võ Quốc P chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, nên Công an huyện U đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Quốc P.

Đối với việc Tạ Chí NTrần Trường S lấy chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 69K2-7587 của ông Trần Quốc T2 thì mục đích là nhằm mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện chở tài sản trộm cắp của ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị T3, không nhằm mục đích chiếm đoạt, sau khi chở tài sản trộm cắp đi bán xong đã đem trả lại ngay chiếc xe mô tô trên cho ông Trần Quốc T2 nên không xử lý, ông T2 không có yêu cầu gì đối với các bị cáo HĐXX không xem xét.

Đối với người đàn ông đã mua chiếc tủ lạnh từ Nguyễn Trường G1Võ Quốc P, quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định được là ai nên không có cở sở xem xét xử lý.

[11] Về án phí:

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Đ1 a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Đ1 c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc Võ Quốc P cùng các bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S mỗi người phải chịu án phí là 300.000 đồng.


QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điều 38, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Xử phạt bị cáo Trần Trường G 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Xử phạt bị cáo Tạ Chí N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điều 38, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91 và 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Xử phạt bị cáo Trần Trường S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về biện pháp tư pháp:

Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U đã trả lại các vật chứng đã thu giữ cho chủ sở hữu do chủ sở hữu không có lỗi dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bị hại ông Đ và các bị cáo cùng P bồi thường đối với tổng số tiền là 10.355.000 đồng. Cụ thể như sau:

Bị cáo Trần Trường G bồi thường cho ông Đ và bà T3 số tiền 2.588.750 đồng, bị cáo Tạ Chí N bồi thường cho ông Đ và bà T3 số tiền 2.588.750 đồng, bị cáo Trần Trường S cùng người đại diện theo pháp luật của bị cáo S là bà Phạm Thị L và ông Trần Minh Hoàng liên đ bồi thường số tiền 2.588.750 đồng, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Quốc P cùng người đại diện theo pháp luật của P là bà Võ Thị M liên đới bồi thường số tiền là 2.588.750 đồng (hai triệu năm trăm tám mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí sơ thẩm:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 6, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Trần Trường G, Tạ Chí NTrần Trường S mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Đ1 c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc Võ Quốc P, bị cáo Trần Trường G, Tạ Chí N và bị cáo Trần Trường S mỗi người phải chịu án phí là 300.000 đồng.

Số tiền án phí Võ Quốc P phải chịu là 300.000 đồng, tổng số tiền án phí bị cáo Trần Trường G phải chịu là 500.000 đồng, tổng số tiền án phí bị cáo Tạ Chí N phải chịu là 500.000 đồng và tổng số tiền án phí bị cáo Trần Trường S phải chịu là 500.000 đồng.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo S; Người đại diện theo pháp luật của bị cáo S là bà L; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Quốc P; Đại diện theo pháp luật của P và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại bà Đặng Thị T1, người đại diện theo pháp luật của bị cáo S là ông H, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc T2, ông Tạ Văn H1 và ông nguyễn Văn K1 vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.


Nơi nhận:

- TAND tỉnh Kiên Giang;

- VKSND tỉnh Kiên Giang;

- VKSND huyện U Minh Thượng;

- Cơ quan điều tra Công an huyện U Minh Thượng;

- Trại tạm giam;

- Sở tư pháp;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Người liên quan;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng;

- Lưu.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Cẩm Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản bị cáo G, S và N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger