Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 5 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Trọng Thủy – Chủ tịch Hội đồng mục vụ giáo họ Đồng Lào.
  2. Ông Trần Xuân Thuận – Nguyên là Phó hiệu trưởng Trường tiểu học số 2 thị trấn Đồng Lê, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Trần Quí L - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/01/2005 tại thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: số nhà C đường T, khóm C, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện tại: Tổ F, ấp G, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Trương Tiến D, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Tố Q, sinh năm 1973; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/12/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.

* Bị hại: Cháu Lê Thanh Nhật Q1, sinh ngày: 23/12/2012

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 18/11/2023 cháu Lê Thanh N Q1 mượn điện thoại của mẹ mình là chị Nguyễn Thị H để chơi game. Q1 đăng nhập tài khoản facebook "Quang Le” rồi nhắn tin với tài khoản facebook “Lâm Trương (silext)” của Trương Trần Quí L để mua file “hack game” của trò chơi Free Fire, L đồng ý bán. Sau khi biết được cấu hình máy là Iphonne 13 Promax nên L hướng dẫn cháu Q1 mua bản “hack game” cao với giá 2.500.000 đồng, cháu Q1 đồng ý rồi sử dụng ứng dụng của Ngân hàng A mua 04 (bốn) thẻ vào Viettell với mệnh giá 500.000 đồng chuyển cho L, số tiền còn thiếu là 500.000 đồng. Do tài khoản ngân hàng A chỉ cho phép mua tối đa 2.000.000 đồng tiền car điện thoại, L sử dụng cuộc gọi video trên Facebook hướng dẫn và chia sẻ màn hình để cháu Q1 chuyển số tiền 500.000 đồng còn thiếu vào số tài khoản 07333049246666 của Ngân hàng Q3 (tên chủ thẻ TRUONG TRAN QUI LAM). Khi biết trong tài khoản trên máy điện thoại cháu Q1 đang sử dụng có nhiều tiền, L nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này. L đã hướng dẫn cháu Q1 thực hiện 04 lần giao dịch chuyển tiền từ tài khoản 3805236669999 của Ngân hàng A1 (tên chủ thẻ NGUYEN THI HOAI) vào số tài khoản 07333049246666 của Ngân hàng Q3 (tên chủ thẻ TRUONG TRAN QUI LAM) với tổng số tiền: 50.950.000 đồng rồi L chuyển 01 (một) Free Fire “hack game” như thỏa thuận, còn lại số tiền 50.450.000 đồng L không hoàn trả lại. Sau đó, cháu Q1 và chị H đã nhiều lần gọi video, nhắn tin (messeenger) và gọi điện thoại vào số điện thoại 0968.065.xxx để yêu cầu L hoàn trả lại tiền nhưng L không trả lời và chặn tất cả các cuộc gọi và tin nhắn của cháu Q1 và chị H. Ngày 19/12/2023 chị H đã viết đơn trình báo sự việc gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 26/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập Trương Trần Quí L đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ vật chứng vụ án, gồm:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 14 Promax, màu tím, số máy MQ8W3 LL/A; số seri H66H3HJ20Q; số IMEI 1: 357183961780247; số IMEI 2: 357183961757006.

- 01 thẻ ngân hàng Q3 (MB), màu xanh, số thẻ 4089041025731316 có chữ TRUONG TRAN QUI LAM, đã qua sử dụng.

- Tiền ngân hàng N1 đang lưu hành, số tiền 52.950.000 đồng (năm mươi hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cháu Lê Thanh Nhật Q1 và người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thị H yêu cầu bị can Trương Trần Quí L bồi thường lại số tiền 50.450.00 đồng (năm mươi triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) mà L đã chiếm đoạt. Hiện tại số tiền này đã được L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T. Ngoài ra không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Bản cáo trạng số: 18/CT – VKSTH – HS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa đã truy tố Trương Trần Quí L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Trương Trần Quí L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm i khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt Trương Trần Quí L từ 12 đến 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (28/12/2023).

Xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 14 Promax, màu tím, số máy MQ8W3 LL/A; số seri H66H3HJ20Q; số IMEI 1: 357183961780247; số IMEI 2: 357183961757006.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 thẻ ngân hàng Q3 (MB), màu xanh, số thẻ 4089041025731316 có chữ TRUONG TRAN QUI LAM, đã qua sử dụng.

- Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H (mẹ cháu Q1) số tiền 50.450.000 đồng (năm mươi triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Trả lại cho bị cáo Trương Trần Quí L số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Toàn bộ số tiền hiện đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa tại Kho bạc Nhà nước huyện T theo ủy nhiệm chi ngày 10/4/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trương Trần Quí L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Trương Trần Quí L đã lợi dụng cháu Q1 còn nhỏ dại thiếu hiểu biết và sự dại dột của cháu Q1, đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội Facebook, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 18/11/2023 bị cáo và cháu Q1 đã tiến hành giao dịch 04 lần mua file hack game với số tiền 2.500.000 đồng. Quá trình thực hiện giao dịch bị cáo biết được tài khoản Ngân hàng A1 cháu Q1 đang sử dụng có nhiều tiền nên đã hướng dẫn cháu Q1 thực hiện nhiều lần giao dịch để chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo tại Ngân hàng Q3 với tổng số tiền là qua nhiều lần chuyển khoản là: 50.950.000 đồng (trong tổng số tiền này có 500.000 đồng là số tiền mua game như đã thỏa thuận giữa bị cáo và cháu Q1), còn số tiền 50.450.000 đồng là bị cáo chiếm đoạt của chị H mẹ cháu Q1. Khi phát hiện số tiền trong tài khoản của mình bị L chiếm đoạt chị H và cháu Q1 đã nhiều lần gọi điện và nhắn tin yêu cầu L phải hoàn trả lại tiền nhưng L không trả lời và chặn tất cả các cuộc gọi và tin nhắn của cháu Q1 và chị H. Như vậy, tổng số tiền bị cáo đã lừa đảo để chiếm đoạt là 50.450.000 đồng (năm mươi triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, công cụ phạm tội, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trương Trần Quí L đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Trần Quí L có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội với người dưới 16 tuổi (cháu Lê Thanh Nhật Q1, sinh năm 2012 đến ngày xét xử chưa đủ 16 tuổi) quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Trần Quí L trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho cơ quan điều tra, đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về mức án mà Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá đề nghị xử phạt bị cáo Trương Trần Quí L từ 12 đến 15 tháng tù:

Hội đồng xét xử xét thấy tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi còn rất trẻ nhưng không chịu khó lao động kiếm tiền mà lại lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại và lợi dụng không gian mạng xã hội Facebook để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thể hiện bản chất lười lao động muốn hưởng thụ bất chính bằng tài sản của người khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận như đề nghị về mức án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, để xử phạt bị cáo hình phạt đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, cũng cần xem xét cho bị cáo những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng dưới khung hình phạt nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người tiến bộ. Vì vậy, cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 14 Promax, màu tím, số máy MQ8W3 LL/A; số seri H66H3HJ20Q; số IMEI 1: 357183961780247; số IMEI 2: 357183961757006 và 01 thẻ ngân hàng Q3 (MB), màu xanh, số thẻ 4089041025731316 có chữ TRUONG TRAN QUI LAM, đã qua sử dụng. Đây là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động và tịch thu tiêu hủy thẻ Ngân hàng Q2 hội nói trên.

- Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H là chủ sở hữu hợp pháp số tiền 50.450.000 đồng (năm mươi triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Trả lại cho bị cáo Trương Trần Quí L số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) vì số tiền này là giao dịch mua bán giữa bị cáo và bị hại Lê Thanh N Q1 có sự thống nhất giữa hai bên.

Toàn bộ số tiền hiện đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa tại Kho bạc Nhà nước huyện T theo ủy nhiệm chi ngày 10/4/2024.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Cháu Lê Thanh Nhật Q1 và người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo Trương Trần Quí L bồi thường lại số tiền 50.450.00 đồng (năm mươi triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) mà L đã chiếm đoạt. Số tiền này đã được bị cáo L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H (mẹ cháu Q1).

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Trương Trần Quí L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm i khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Trần Quí L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

- Về hình phạt: Xử phạt Trương Trần Quí L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 28/12/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng vụ án:

- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 14 Promax, màu tím, số máy MQ8W3 LL/A; số seri H66H3HJ20Q; số IMEI 1: 357183961780247; số IMEI 2: 357183961757006.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 thẻ ngân hàng Q3 (MB), màu xanh, số thẻ 4089041025731316 có chữ TRUONG TRAN QUI LAM, đã qua sử dụng.

- Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H số tiền 50.450.000 đồng (năm mươi triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Trả lại cho bị cáo Trương Trần Quí L số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng)

Toàn bộ số tiền trên hiện đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa tại Kho bạc Nhà nước huyện T theo ủy nhiệm chi ngày 10/4/2024.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Trương Trần Quí L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt bị hại. Tuyên bố bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/5/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo, Bị hại, NCQLNVLQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Đoàn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Trần Quí L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger