Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21/5/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Trần Lê

2/Bà Phan Thị Thúy Hằng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thoang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Tùng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thu S, sinh năm 2002

Trú tại: Thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1994

Trú tại: Thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên;

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện do chị Dương Thị Thu S viết ngày 04/01/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị S trình bày: Vào năm 2020, chị S và anh Huỳnh Văn T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn cãi vã, bất đồng quan điểm sống, trong lúc cãi vã anh T có đánh chị S nên vợ chồng không còn hạnh phúc, đến đầu năm 2022 vợ chồng không còn sống chung với nhau, mạnh ai nấy mạnh không ai quan tâm đến ai. Nay chị S không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Huỳnh Dương An V, sinh ngày 22/3/2020. Ly hôn chị S xin nhận nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Theo biên bản làm việc ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, ông Huỳnh Ngọc A (là cha ruột của anh Huỳnh Văn T) trình bày: Ông A có nhận giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh T thì có báo cho anh T biết nhưng vì đang đi làm ăn xa nên không tham gia làm việc tại Tòa án được. Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để hòa giải và xét xử nhưng bị đơn anh T vẫn vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nêu quan điểm giải quyết vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Dương Thị Thu S được ly hôn với anh Huỳnh Văn T; Về con chung: Giao cháu Huỳnh Dương An V, sinh ngày 22/3/2020 cho chị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị S không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Huỳnh Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Thu S và anh Huỳnh Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2020 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, chị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, lý do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và không còn sống chung với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Xét thấy, hôn nhân giữa chị S và anh T không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị S được ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: Chị Dương Thị Thu S và anh Huỳnh Văn T có 01 con chung là Huỳnh Dương An V, sinh ngày 22/3/2020. Tại phiên tòa, chị S xin được trực tiếp nuôi con. Xét thấy, cháu V còn nhỏ và đang ở với chị S, do đó để đảm bảo sự phát triển ổn định cuộc sống như lâu nay nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị S, giao cháu Huỳnh Dương An V cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chị S không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Dương Thị Thu S không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

[5] Về án phí: Chị Dương Thị Thu S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Dương Thị Thu S được ly hôn với anh Huỳnh Văn T.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Dương An V, sinh ngày 22/3/2020 cho chị Dương Thị Thu S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Dương Thị Thu S không yêu cầu anh Huỳnh Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Dương Thị Thu S không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chị Dương Thị Thu S phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST. Chị S đã nộp đủ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010307 ngày 01/02/2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H.P;
  • - CCTHADS H P;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - UBND xã H, h P,
  • - Số 88; Ngày 19/10/2020;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Dương Thị Thu Sương xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger