|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày: 17-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Sỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Siu Thun Phrào.
Ông Chu Xuân Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Niên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Hà Văn S; sinh ngày 28-12-1986, tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ A, Phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; căn cước công dân số: [...], cấp ngày: 06-9-2021, nơi cấp: Cục C về TTXH - BCA; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị S1; có vợ là Vũ Thị T và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Anh Lê Văn M, sinh ngày 27-9-2001; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Văn D, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (cha đẻ của anh Lê Văn M). Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Lê Thị Mỹ D1, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Ninh Bá M1, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Trần Minh T1, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thái D2, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Lê Anh T2, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Anh Lê Phước T3, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 31-12-2024, Hà Văn S có Giấy phép lái xe hạng FC theo quy định, trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 17H-013.36 (nhãn hiệu Chenglong, loại xe tải có mui, màu sơn bạc) đi trên đường H theo hướng từ Gia Lai đi Đắk Lắk. Khi đến trước cửa hàng X thuộc địa phận thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nằm phía bên phải đường theo hướng di chuyển của xe ô tô tải do S điều khiển) thì S điều khiển xe ô tô tải đi vào bãi sân trống phía trước cửa hàng xăng dầu để bốc trả hàng cho khách. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi bốc trả hàng xong thì S tiếp tục điều khiển xe ô tô tải nêu trên di chuyển ra đường H để tiếp tục lưu thông đi Đắk Lắk. Đoạn đường này thuộc km1648 + 600m, mặt đường rộng 10,70m, bề mặt được trải thảm bê tông nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ sơn màu vàng dạng đơn đứt nét giữa tim đường phân chia chiều đi, trên mỗi chiều đi có vạch kẻ sơn màu trắng dạng đơn liền nét phân chia làn đường, là đoạn đường thẳng, hai bên có lề đường đất, tốc độ tối đa cho phép lưu thông đối với xe mô tô là 60km/h và xe ô tô là 80km/h. Lúc này, S điều khiển xe ô tô tải có bật đèn chiếu sáng phía trước và bật đèn xi nhan bên trái (bên tài) để xin đường, S tiếp tục điều khiển xe ô tô tải di chuyển về phía trước tiến ra đường H với vận tốc khoảng 10km/h. Khi đầu xe ô tô tải do S điều khiển ra đến đường H thì S đánh lái sang phải để xe chuyển hướng đi dọc theo đường H về phía Đắk Lắk. Tại thời điểm thân xe ô tô tải chưa song song với vạch kẻ ở giữa tim đường, mép bên trái (bên tài) đầu xe cách vạch kẻ tim đường khoảng 02m, mép đuôi thùng xe phía sau bên trái (bên tài) cách vạch kẻ tim đường khoảng 03m thì Lê Văn M có Giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74 (nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, màu sơn đỏ-trắng, dung tích xilanh 108cm³) lưu thông ở phần đường bên phải trên đường H theo hướng từ Gia Lai đi Đắk Lắk với vận tốc từ 79,73km/h đến 91,53km/h (theo Kết luận giám định số 127 ngày 03-4-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh K) đi đến và tông vào khu vực hông bên trái (bên tài) của xe ô tô tải do S điều khiển (trước đó theo lời khai của những người làm chứng thì M đã sử dụng bia). Sau va chạm, S tiếp tục điều khiển xe ô tô tải đi về phía trước thêm một đoạn rồi dừng lại trên đường H, còn M và xe mô tô do M điều khiển bị ngã văng vào lề đường bên trái theo hướng di chuyển. Hậu quả Lê Văn M chết trên đường đi cấp cứu, xe ô tô tải và xe mô tô bị hư hỏng.
Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã phối hợp với các ngành chức năng tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại km1648 + 600m đường H thuộc địa phận thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Hiện trường không còn nguyên vẹn do quá trình đưa người bị thương đi cấp cứu, quá trình người và phương tiện lưu thông qua lại làm ảnh hưởng đến hiện trường. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường được trải thảm bê tông nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 10,70m, có vạch kẻ sơn màu vàng dạng đơn đứt nét giữa tim đường phân chia chiều đi, trên mỗi chiều đi có vạch kẻ sơn màu trắng dạng đơn liền nét phân chia làn đường, là đoạn đường thẳng, hai bên có lề đường đất, không có biển báo hiệu, đèn tín hiệu nơi xảy ra tai nạn, tốc độ cho phép lưu thông đối với xe mô tô là 60km/h và xe ô tô là 80km/h. Tiến hành khám nghiệm và đo vẽ về bên mép đường bên phải tính theo hướng từ Gia Lai đi Đắk Lắk có các dấu vết như sau:
- - Vết hằn lốp bánh xe có bám dính đất diện (27,23 x 1,10)m, được đánh số thứ tự là (1). Vết (1) để lại trên mặt đường có dạng cong về phải, có chiều hướng Gia L đi Đắk Lắk. Đầu vết (1) tiếp giáp mép đường phải, cuối vết (1) tiếp giáp bề mặt bánh xe sau cùng bên trái xe ô tô tải biển kiểm soát 17H-013.36.
- - Từ tâm điểm đầu vết (1) cách 4,70m về hướng đi Đắk Lắk là tâm đầu vết hằn lốp bánh xe có bám dính đất diện (22,31 x 1,05), được đánh số thứ tự là (2) để lại trên mặt đường tương tự và song song với vết (1). Đầu vết (2) tiếp giáp mép đường phải, cuối vết (2) tiếp giáp bề mặt bánh xe sau cùng bên phải xe ô tô biển kiểm soát 17H-013.36.
- - Từ điểm đầu vết (1) cách 13,80m về hướng đi Đắk Lắk là vùng mảnh vỡ diện (5,56 x 3,10)m, được đánh số thứ tự là (3). Vùng (3) không rõ hình dạng để lại trên mặt đường và nằm trên vết (1), (2). T4 vùng (3) cách mép đường phải là 3,50m.
- - Xe ô tô tải biển kiểm soát 17H-013.36 được đánh số thứ tự là (4). Xe (4) đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đi Đắk Lắk, đuôi xe hướng đi Gia Lai. Mép lốp ngoài cùng bánh xe sau cùng bên phải xe (4) cách mép đường phải là 1,65m, mép lốp ngoài bánh xe đầu tiên bên phải xe (4) cách mép đường phải là 1,82m.
- - Từ tâm mép lốp ngoài cùng bánh xe sau cùng bên trái xe (4) cách 1,10m hướng ra lòng đường là mũ bảo hiểm màu xanh, được đánh số thứ tự là (5).
- - Từ tâm vùng (3) cách 17,18m về hướng đi Đắk Lắk chếch về phía trái mép đường phải trên lề đường đất là vết màu nâu đỏ (nghi là máu) dạng lỏng, không rõ hình dạng và có diện (0,80 x 0,22)m, được đánh số thứ tự là (7). T4 vết (7) cách mép đường chuẩn là 13,60m.
- - Từ tâm vết (7) cách 1,56m về hướng đi Gia Lai phát hiện vết cà đứt quãng không liên tục có chiều hướng Gia L đi Đắk Lắk và có diện (16,40 x 0,06)m, được đánh số thứ tự là (6). Đầu vết (6) cách mép đường phải là 13,35m, cuối vết (6) tiếp giáp thân xe bên trái xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74.
- - Xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74 được đánh số thứ tự là (8). Xe (8) ngã đổ về bên trái trên lề đường đất, đầu xe hướng trái mép đường phải, đuôi xe hướng đi Đắk Lắk. T4 trục bánh trước xe (8) cách méo đường phải là 24,80m, tâm trục bánh sau xe (8) cách mép đường phải là 23,8m, tâm trục bánh sau xe (8) cách tâm trục bánh xe trước đầu tiên bên trái xe (4) là 20,90m.
Tại Kết luận giám định tử thi số 94 ngày 09-01-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của Lê Văn M là do dập, vỡ khí quản; đứt động, tĩnh mạch dưới đòn phải.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 01-01-2025 của Phòng C1 Công an tỉnh G đối với Hà Văn S thì kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của S là 0,000 miligam/1 lít khí thở. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với S là âm tính.
Ngày 01-01-2025, K Sinh hóa Bệnh viện đa khoa tỉnh G tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Lê Văn M, tuy nhiên mẫu máu bị tán huyết nên không thể thực hiện được việc xét nghiệm.
Tại Kết luận giám định tư pháp ngày 09-01-2025 của Sở Giao thông vận tải tỉnh G kết luận xe ô tô biển kiểm soát 17H-013.36 tại thời điểm giám định đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 07 và 08 cùng ngày 19-02-2025 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- - Giá trị thực tế phần hư hỏng của xe ô tô tải biển kiểm soát 17H-013.36 là 4.090.000 đồng.
- - Giá trị thực tế phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74 là 5.260.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 127 ngày 03-4-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận vận tốc, phần đường di chuyển của xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74 trước khi xảy ra tai nạn như sau:
- - Tập tin video “camera.mp4", thời lượng 00 phút 17 giây, dung lượng 2.50 MB gửi giám định: không bị cắt ghép, chỉnh sửa.
- - Vận tốc của xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74 được xác định ngay trước khi xảy ra tai nạn là từ 79,73km/h đến 91,53km/h.
- - Không xác định được xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74 di chuyển trên phần đường bên trái hay bên phải trước khi xảy ra tai nạn (tính theo hướng Gia Lai đi Đắk Lắk).
Về vật chứng của vụ án:
- - Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 17H-013.36: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Hà Văn S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, giao trả chiếc xe trên cho S. Sau khi nhận lại tài sản, S không có yêu cầu gì khác.
- - Đối với xe mô tô biển kiểm soát 81S1-017.74 và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Lê Văn D (cha đẻ của bị hại Lê Văn M) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, giao trả chiếc xe và mũ bảo hiểm trên cho ông D. Sau khi nhận lại tài sản, ông D không có yêu cầu gì khác.
- - Đối với 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải Thành phố H (nay là Sở Xây dựng Thành phố H) cấp ngày 07-01-2022 mang tên Hà Văn S mà Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án, xét đây là giấy tờ của thuộc sở hữu hợp pháp của S, không phải là vật chứng của vụ án nên trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh đã ra quyết định xử lý vật chứng, giao trả giấy phép lái xe trên cho S.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau sự việc xảy ra, bị cáo Hà Văn S đã bồi thường cho gia đình bị hại Lê Văn M tiền chi phí mai táng, chi phí sửa xe mô tô và tổn thất tinh thần tổng số tiền là 210.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Hà Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Diễn biến phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên nội dung, qua điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn S mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đã được xử lý đúng theo quy định của pháp luật trong giai đoạn điều tra, truy tố nên đề nghị miễn xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn S chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hà Văn S nhất trí với nội dung truy tố của bản Cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại, tố cáo nên các hành vi, quyết định của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn S thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan, sai. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 31-12-2024, bị cáo Hà Văn S đã điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 17H-013.36 tham gia giao thông gây tai nạn trên đường H (Quốc lộ A) tại vị trí km1648 + 600m thuộc địa phận thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vụ tai nạn xảy ra do lỗi hỗn hợp của cả bị cáo S và bị hại Lê Văn M, trong đó lỗi của bị cáo S là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn. Cụ thể, khi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 17H-013.36 chuyển hướng từ vị trí dừng, đỗ ra đường H để tiếp tục lưu thông, mặc dù trời tối, tầm nhìn bị hạn chế nhưng bị cáo S đã chủ quan, thiếu chú ý quan sát, gây trở ngại cho các phương tiện tham gia giao thông khác trong quá trình chuyển hướng xe dẫn đến khi phát hiện xe của bị cáo S đang chuyển hướng thì anh M không kịp xử lý nên đã va chạm vào phần hông bên trái (bên tài) của xe ô tô tải do bị cáo S điều khiển, hậu quả làm anh M tử vong, xe ô tô tải và xe mô tô bị hư hỏng.
[3] Việc bị cáo S chuyển hướng xe ô tô không đảm bảo an toàn, gây trở ngại cho các phương tiện tham gia giao thông khác đã vi phạm nguyên tắc của hoạt động giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 5 Điều 4, khoản 23 Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ (nay là khoản 4 Điều 3, khoản 28 Điều 9, điểm c khoản 3 Điều 12, khoản 3 Điều 15 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ), gây hậu quả nghiêm trọng làm 01 người chết. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tính mạng của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Tại thời điểm gây tai nạn, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi vô ý do cẩu thả. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nguyên nhân xảy ra tai nạn có một phần lỗi của bị hại khi tham gia giao thông trong tình trạng trước đó đã uống bia, chạy quá tốc độ quy định; sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo S đã thăm hỏi, động viên, tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả gây ra cho bị hại với số tiền 210.000.000 đồng, được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử ghi nhận, áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo S mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo S không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt bị cáo đi chấp hình phạt tù thì cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương. Căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTPngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) thì bị cáo S có đủ điều kiện để được hưởng án treo trong trường hợp bị kết án phạt tù. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về phần hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Việc xử lý vật chứng của vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai thực hiện đúng quy định pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường là 210.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo S phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hà Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hà Văn S 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17-6-2025).
Giao bị cáo Hà Văn S cho Ủy ban nhân dân Phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo Hà Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước (nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai).
- Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tiến Sỹ |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn S phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
