Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS - ST

Ngày: 21 - 3 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Phương.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Đặng Viết Hùng.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Tuyết - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại phòng xét xử trực tuyến điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 01 Công an Thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST - HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST - HS, ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với:

Bị cáo Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1997 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Xóm F, thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng B và bà Vương Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 02, Công an Thành phố H. Có mặt.

+ Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Dương Hồng T1, sinh năm 2005; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Số B, ngõ A, phố L, thị trấn V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1986; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn T, xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • - Chị Đặng Thảo L, sinh năm 2005; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An; cư trú tại: Thôn C, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 14/12/2024, Dương Hồng T1 gọi điện cho Nguyễn Trọng Q qua tài khoản M hỏi mua 02 túi ma túy Ke và 03 viên ma túy kẹo, mục đích để sử dụng thì được Q đồng ý bán với giá 5.400.000 đồng và thỏa thuận chuyển khoản trả trước 3.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ trả nốt khi nhận ma túy tại điểm hẹn khu vực phố T, thị trấn V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Do cả hai không có số tài khoản ngân hàng nên T1 nhờ bạn là anh Nguyễn Tuấn S, sinh năm 2001 ở xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội chuyển khoản 3.000.000 đồng vào tài khoản do Q cung cấp 0988533859 tại ngân hàng Q2 của anh Nguyễn Đình H, đồng thời Q thuê taxi của anh H chở đến thị trấn V, huyện Ứ. Trên đường đi Q bảo anh H chuyển 2.900.000 đồng vào tại khoản số [...] mang tên Lò Thị G, sinh năm 2003 chỗ ở thôn C, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội để gửi cho bạn gái Q là chị Đặng Thảo L nhờ nhận hộ tiền; số tiền còn lại 100.000 đồng, Q trả tiền thuê xe cho anh H. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 15/12/2024, khi đi đến chỗ hẹn tại phố T, thị trấn V, huyện Ứ, Q ngồi trong xe ô tô thả bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong chứa ma túy xuống dệ đường. Sau đó, Q gọi điện thoại cho T1, T1 đi ra gặp và đưa cho Q 2.400.000 đồng. Khi Q vừa nhận tiền xong thì tổ công tác Công an huyện Ứ đến kiểm tra phát hiện thu giữ của Q 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 03 viên nén hình tam giác màu xám và 02 túi nilon kích thước tương tự nhau (02x02)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy mà Q thả xuống dệ đường, số tiền 2.400.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám; thu giữ của T1 01 điện thoại di động Samsung.

Ngay sau đó, khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày 15/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q tại thôn T, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, thu giữ 01 cân tiểu ly.

Chị Đặng Thảo L đã giao nộp lại số tiền 2.900.000 đồng mà Q nhờ nhận hộ; anh Nguyễn Đình H đã giao nộp lại số tiền 100.000 đồng mà Q trả tiền thuê taxi.

Công an huyện Ứ đã đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật và gửi đi trưng cầu giám định theo quy định pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 8813/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

  • “01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong gồm có:
  • - 03 viên nén hình tam giác màu xám đều là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 1,245 gam;
  • - Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, có tổng khối lượng 1,102 gam”.

Tại cáo trạng số 12/CT - VKS ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố bị cáo Trần Trọng Q1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu.

2

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa giữ nguyên quan điểm về tội danh, điều luật áp dụng theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024; Đề nghị tịch thu tiêu huỷ, sung công quỹ vật chứng của vụ án, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đồng thời buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Kiểm sát viên... trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dụng vụ án:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nội dung kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, Biên bản thu giữ vật chứng, Biên bản niêm phong vật chứng, Kết luận giám định... có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 00 giờ 45 phút ngày 15/12/2024, tại khu vực phố T, thị trấn V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội, Công an huyện Ứ đã bắt quả tang Trần Trọng Q1 đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho anh Dương Hồng T1; thu giữ của Q1 03 viên ma túy loại MDMA có tổng khối lượng 1,245 gam và 02 gói ma túy loại Ketamine có tổng khối lượng 1,102 gam. Với hành vi nêu trên của bị cáo Trần Trọng Q1 đã đủ dấu hiệu cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Do khối lượng 02 chất ma túy loại MDMA, Ketamine bị cáo bán trái phép trên chưa đủ cấu thành tình tiết định khung quy định tại điểm p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; nên việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố bị cáo Trần Trọng Q1 ra trước Tòa để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong khi cả nước đang nỗ lực tìm mọi giải pháp đẩy lùi, triệt phá tệ nạn ma túy thì hành vi bán trái phép chất ma tuý của Trần Trọng Q1 là hết sức nguy

3

hiểm cho xã hội bởi bị cáo không chỉ xâm hại đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma tuý, mà còn làm phương hại nghiêm trọng đến trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo với một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở về con đường lương thiện đồng thời cũng để làm gương cho người khác

Khi quyết định hình phạt, đã cân nhắc đến bị cáo quá trình tố tụng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần hình phạt để chứng tỏ sự khoan hồng của Pháp luật.

Tuy hành vi phạm tội của bị cáo có động cơ trục lợi bất chính, song mục đích thu lời chỉ để có tiền sử dụng ma túy, bản thân bị cáo không có công ăn việc làm, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Dương Hồng T1 có hành vi mua ma túy của Q1 nhằm mục đích sử dụng và chưa cầm nhận số ma túy Q1 bán cho nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T1 là hợp lẽ.

Đối với người nam giới theo Q1 khai đã bán ma túy cho Q1 ở khu vực cụm C huyện T, Thành phố Hà Nội. Do Q1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người nam giới này, cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra xác minh nên chưa xét trong vụ án này.

Đối với chị Đặng Thảo L được Q1 nhờ giữ hộ số tiền 2.900.000 đồng. Do chị L không có tài khoản nên chị L mượn tài khoản ngân hàng của chị Lò Thị G, sinh năm 2003 chỗ ở thôn C, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội (là bạn làm cùng) để nhận số tiền này; anh Nguyễn Tuấn S, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội được T1 nhờ chuyển 3.000.000 đồng cho Q1. Cả chị L, chị G và anh S đều không biết việc chuyển, nhận tiền trên là tiền mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý những người này là có căn cứ.

Đối với anh Nguyễn Đình H là người điều khiển xe ô tô BKS 30F-157.04 được Q1 thuê chở đến thị trấn V, huyện Ứ và nhờ nhận hộ số tiền 3.000.000 đồng. Song quá trình điều tra xác định anh H không biết chở Q1 đi bán ma tuý và không biết số tiền trên do Q1 bán ma tuý mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân không đề cập xử lý anh H và đã trả lại anh H xe ô tô trên cùng chiếc điện thoại Iphone 12 ProMax là có căn cứ

Về vật chứng của vụ án:

Khoản tiền 5.400.000 đồng là tiền Nguyễn Trọng Q bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám thu giữ của Q và điện thoại di động SamSung thu giữ của Dương Hồng T1 đều liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước; 01 cân tiểu ly thu giữ của Q là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng và số ma túy loại MDMA, loại Ketamine lưu giữ trong phong bì niêm phong là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại các điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, b, c Khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

4

Ngoài hình phạt, bị cáo còn phải chịu khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử:

    Phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024. (Có Quyết định tạm giam kèm theo).

  3. Áp dụng các điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

    • + Tịch thu để tiêu huỷ:
      • - 01 (Một) phong bì niêm phong đề Công an Thành phố H, đơn vị Công an huyện Ứ, ngày niêm phong 15/12/2024; mặt bên phong bì có chữ ký của giám định viên, bị cáo và hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong. Bên trong phong bì có ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine hoàn lại sau giám định.
      • - 01 (Một) cân tiểu ly.
    • + Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:
      • - Số tiền 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền Nguyễn Trọng Q bán trái phép chất ma tuý mà có.
      • - 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong (thu của Nguyễn Trọng Q).
      • - 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong (thu của Dương Hồng T1).
    • Số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 và Ủy nhiệm chi lập ngày 20/02/2025.
  4. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có

5

quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

6

7

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS - ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Quang tội ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger