TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HSST Ngày 08 tháng 4 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ – TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Vĩnh
2. Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Lại Phương Thuý– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại UBND xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST – HS ngày ngày 14 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn L, sinh ngày 06/11/1986 tại tỉnh Vĩnh Phúc
Nơi ĐKHK và cư trú: Thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Nguyễn Văn T (đã chết); mẹ đẻ: Vũ Thị S, sinh năm 1956; vợ: Cao Thị H, sinh năm 1991 (đã ly hôn); có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 29/2020/HSST ngày 08/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Luyến chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, đã chấp hành xong quyết định khác của bản án (án phí). Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (phân khu S), có mặt
- Nguyễn Chung Đ, sinh ngày 20/10/1986 tại tỉnh Vĩnh Phúc
Nơi ĐKHK và cư trú: thôn V, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1965; mẹ đẻ: Vũ Thị K, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1991; có 02 con: lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không;
Tiền án: 03 tiền án: - Bản án số 37/2019/HSST ngày 20/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 12.000.000đ). Đông chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/11/2020, đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án (án phí). Chưa được xóa án tích.
- Bản án số 56/2021/HSST ngày 08/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 1.528.000đ – lấy bản án số 37 làm định tội). Đông chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/9/2022, đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án (án phí). Chưa được xóa án tích.
- Bản án số 90/2023/HS-ST ngày 25/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 4.500.000đ, có áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”). Đông chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2024, đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án (án phí). Chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 12/01/2020, Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình phạt tiền 1.500.000đ. Đông chưa chấp hành nộp phạt, đã hết thời hiệu thi hành quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (phân khu S), có mặt.
- Người chứng kiến: Bà Dương Thị H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
Ông Ngô Quang T1, sinh năm 1980; nơi cư trú: xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 31/12/2024, Nguyễn Chung Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Văn L hỏi mua 300.000đ tiền ma túy Heroine, L đồng ý và bảo Đ đến lấy ma túy ở viên gạch lỗ phía trong trụ cổng nhà L, Đ một mình đi xe máy biển kiểm soát 88D1-513.01 đến cổng nhà L lấy 03 gói ma túy Heroine ở vị trí L nói. Sau đó, Đ đi ra khu vực bãi rác ở xã V, huyện L sử dụng hết 01 gói ma túy Heroine, còn 02 gói ma túy Đông đúc vào túi quần dài bên phải phía trước đang mặc đi về hướng huyện S. Khoảng 17 giờ cùng ngày khi Đ đi đến đoạn đường thuộc thôn V, xã T, huyện S thì bị lực lượng Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại đó kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần dài phía trước Đ đang mặc 01 túi nilon dạng túi zíp, bên trong có 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất cục, bột màu trắng – niêm phong ký hiệu A1. Đ khai nhận đây là 02 gói ma tuý Heroine vừa mua của Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 ở thôn T, xã V, huyện L để sử dụng cùng một số vật chứng khác.
Căn cứ lời khai của Đ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở đối với Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 ở thôn T, xã V, huyện L, thu giữ: tại túi quần sau bên phải L đang mặc 02 gói giấy màu trắng bên trong có chất cục, bột màu trắng – niêm phong ký hiệu A2. L khai nhận khai nhận 02 gói chất bột màu trắng trên là ma tuý Heroine của L để bán kiếm lời và một số vật chứng khác.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định chất ma túy đối với các mẫu vật thu giữ được của Nguyễn Chung Đ và Nguyễn Văn L. Ngày 04/01/2025, Phòng K1 Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 60/KL-KTHS kết luận:
- “1. Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định có khối lượng 0,2222g là ma túy, loại Heroine
- 2. Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định có khối lượng 0,0983g là ma túy, loại Heroine”.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai nguồn gốc ma tuý Heroine Cơ quan công an thu giữ có được do mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở khu vực cổng trung tâm y tế huyện L vào buổi trưa ngày 31/12/2024 với giá 500.000đ, sau đó mang về chia thành 06 gói mục đích để bán kiếm lời.
Đối với hành vi của L bán trái phép chất ma túy cho Đ xảy ra trên địa bàn huyện L. Tuy nhiên, nơi phát hiện ra tội phạm là địa bàn huyện S. Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã trao đổi và cơ quan CSĐT Công an huyện L đã có công văn trả lời để cơ quan CSĐT Công an huyện S điều tra, xử lý.
* Vật chứng thu giữ:
- - Mẫu vật A1 = 0,2222g heroine, hoàn lại = 0,1358g; A2 = 0,0983g Heroine, hoàn lại = 0,0348g;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Chung Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu vàng đồng, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Văn L;
- - 01 ví giả da màu đen; số tiền 1.065.000đ; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn L; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, gắn biển kiểm soát 88D1-288.72.
- - 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, gắn biển kiểm soát 88D1-513.01 là của Nguyễn Chung Đ,
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 12 tháng 03 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Nguyễn Chung Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Chung Đ; giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Chung Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Áp dụng: Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chung Đ từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng vụ án:
- - Tịch thu, tiêu huỷ mẫu vật A1 = 0,2222g heroine, hoàn lại = 0,1358g; A2 = 0,0983g Heroine, hoàn lại = 0,0348g;
- - Tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Chung Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu vàng đồng, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Văn L;
- - Trả lại cho Nguyễn Văn L: 01 ví giả da màu đen; số tiền 1.065.000đ; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn L; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, gắn biển kiểm soát 88D1-288.72, nhưng tạm giữ số tiền 1.065.000₫ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho Nguyễn Chung Đ 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, gắn biển kiểm soát 88D1-513.01, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Chung Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Chung Đ nói lời sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Chung Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kiểm điểm, lời khai tại cơ quan điều tra của các bị cáo, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15 giờ ngày 31/12/2024, tại cổng nhà thuộc thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn L đã có hành vi bán trái phép 03 gói ma túy Heroine khối lượng 0,2222g với giá 300.000đồng cho Nguyễn Chung Đ. Sau đó, khi Đ cầm ma túy đi đến thôn V, xã T, huyện S thì bị lực lượng Công an huyện S bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Căn cứ lời khai của Đ, tiến hành khám xét khẩn cấp đối với người, nơi ở của Nguyễn Văn L thu giữ 02 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,0983g, L khai để bán kiếm lời và một số vật chứng khác.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn L đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Hành vi nêu trên của Nguyễn Chung Đ đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...o) Tái phạm nguy hiểm”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Mặc dù các hành vi liên quan đến ma tuý, tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người đã được tuyên truyền giáo dục nhiều, song các tội phạm về ma túy cũng chưa giảm, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử lưu động công khai tại khu dân cư là cần thiết, có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, giữ vững an ninh tại địa phương.
Trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Văn L là người có nhân thân xấu, năm 2020 đã bị Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bải học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý vi phạm pháp luật, sử dụng tiền của mình trực tiếp đi mua ma túy về chia nhỏ để bán kiếm lời. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần xử phạt nghiêm bị cáo một mức án tù để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Chung Đ là người trực tiếp đi mua ma tuý về sử dụng, gây nghiện cho bản thân, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo đã ba lần bị TAND huyện Sông Lô, TAND huyện Lập Thạch và TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái pháp chất ma tuý” theo điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là “Tái phạm nguy hiểm”. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần xử phạt nghiêm bị cáo một mức án tù nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo thấy rằng: các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 và Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ: Quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai nguồn gốc ma tuý Heroine Cơ quan công an thu giữ có được do mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở khu vực cổng trung tâm y tế huyện L vào buổi trưa ngày 31/12/2024 với giá 500.000đ, sau đó mang về chia thành 06 gói mục đích để bán kiếm lời. Tuy nhiên, Nguyễn Văn L không xác định được rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể cũng như đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau đối với đối tượng bán ma túy cho L là có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Mẫu vật A1 = 0,2222g heroine, hoàn lại = 0,1358g; A2 = 0,0983g H, hoàn lại = 0,0348g là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Chung Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu vàng đồng, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Văn L dùng để trao đổi mua bán ma tuý nên cần tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước;
- - 01 ví giả da màu đen; số tiền 1.065.000đ; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn L; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, gắn biển kiểm sát 88D1-288.72 là của Nguyễn Văn L, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
- - 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, gắn biển kiểm soát 88D1-513.01 là của Nguyễn Chung Đ, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 300.000đ, bị cáo Đ mua ma tuý của bị cáo L chưa trả: Đây là số tiền các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần truy thu, sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điểm s Khoản 1 + Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/12/2024.
- Căn cứ vào: Điểm o Khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chung Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chung Đ 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/12/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- - Tịch thu, tiêu huỷ mẫu vật A1 = 0,2222g heroine, hoàn lại = 0,1358g; A2 = 0,0983g Heroine, hoàn lại = 0,0348g;
- - Tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Chung Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu vàng đồng, loại màn hình cảm ứng, bị vỡ màn hình của Nguyễn Văn L;
- - Trả lại cho Nguyễn Văn L: 01 ví giả da màu đen; số tiền 1.065.000₫, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn L, 01 xe máy nhãn hiệu Honda, gắn biển kiểm soát 88D1-288.72; nhưng tạm giữ số tiền 1.065.000₫ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho Nguyễn Chung Đ 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, gắn biển kiểm soát 88D1-513.01, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2025).
Truy thu, sung quỹ Nhà nước của bị cáo Nguyễn Trung Đ2 số tiền 300.000₫.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Chung Đ: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thị Nga |
Bản án số 20/2025/HSST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ – TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ – TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Luyến - Nguyễn Chung Đông
