TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-PT Ngày 03/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
Ông Nguyễn Quang Vũ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Dương Phi L và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Dương Phi L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20 tháng 01 năm 2007, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ (tại thời điểm phạm tội L đủ 17 năm 02 ngày tuổi); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Dương Quốc H, sinh năm 1985; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ đẻ: Mai Thị Ánh T, sinh năm: 1987; Nghề nghiệp: Công nhân; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 17/6/2024. Từ ngày 17/6/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “Tạm giam” sang “Bảo lĩnh”. Từ ngày 01/10/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo L: Chị Mai Thị Ánh T, sinh năm 1987, trú tại Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ là mẹ bị cáo.
- Trương Trung K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09 tháng 02 năm 2007 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội K đủ 16 năm, 11 tháng, 13 ngày tuổi); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Trương Minh P, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ đẻ: Lê Thị Hồng G, sinh năm 1985; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 22/3/2024. Từ ngày 22/3/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “Tạm giam” sang “Bảo lĩnh”. Từ ngày 01/10/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo K: Chị Lê Thị Hồng G, sinh năm 1985, trú tại Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ là mẹ bị cáo.
+ Người bào chữa cho bị cáo K: Bà Bùi Thị Thanh N - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
- Trần Hoài L1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 12 năm 1998, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Trần Thanh H1; Sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Hiện ở khu C, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Mẹ đẻ: Lê Thị Thu H2; Sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Lao động tại Đài Loan; Vợ: Đàm Thị Huyền T1; Sinh năm: 1998; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: có 01 con, sinh năm 2023; Hiện vợ, con đang ở Khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 23/11/2016, Công an phường H, thị xã P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với L1 về hành vi ném chất bẩn vào người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 350.000 đồng. Chấp hành xong khoản tiền phạt ngày 14/12/2016. Tại Quyết định số 83/QĐ-XPHC ngày 21/9/2017, Công an thị xã P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với L1 về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 2.500.000 đồng. Tại Quyết định số 187/QĐ-XPHC ngày 20/10/2017, Công an thị xã P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với L1 về hành vi tàng trữ, cất giấu các loại dao búa, các loại phương tiện khác dùng trong lao động sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 3.000.000 đồng. Tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 18/3/2018, Công an phường Â, thị xã P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với L1 về hành vi đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng. Tại Quyết định số 134/QĐ-XPHC ngày 18/5/2018, Công an thị xã P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với L1 về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 2.500.000 đồng. Kết quả xác minh xác định: Quá trình điều tra và xét xử sơ thẩm L1 chưa chấp hành khoản tiền nộp phạt của 04 Quyết định trên. Ngoài các biên bản xác minh, đôn đốc, không có Quyết định cưỡng chế thi hành của Cơ quan ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 12/12/2024 L1 đã chấp hành nộp phạt tiền theo 04 Quyết định trên. Tại Quyết định số 05/2018/QĐADBPXLHC ngày 17/7/2018, Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ đã Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với L1, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 17/01/2020. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 17/6/2024. Từ ngày 17/6/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “Tạm giam" sang “Bảo lĩnh”. Từ ngày 01/10/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Nguyễn Minh Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27 tháng 02 năm 2001, tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Khu C, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Văn T2 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định số 143/QĐ-XPHC ngày 15/10/2020, Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 2.500.000 đồng. Tại Quyết định số 73/QĐ-XPHC ngày 07/6/2021, Công an thị xã P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt: 3.000.000 đồng. Kết quả điều tra xác định: Q chưa chấp hành khoản tiền nộp phạt của 02 Quyết định trên. Ngoài các biên bản xác minh, đôn đốc, không có Quyết định cưỡng chế thi hành của Cơ quan ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 29/6/2024. Từ ngày 29/6/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
- Nguyễn Văn T3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 31 tháng 10 năm 2001, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Khu D, xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Ngọc T4, sinh năm: 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ đẻ: Hà Thị Kim A, sinh năm: 1984; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến ngày 01/8/2024. Từ ngày 01/8/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Nguyễn Anh T5; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29 tháng 11 năm 1991 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư T, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Văn T6, sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ đẻ: Trần Thị Anh D, sinh năm 1961; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vợ: Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm: 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 20/5/2014, Công an phường H, thị xã P xử phạt vi phạm hành chính đối với T5 về hành vi đánh nhau, hình thức phạt tiền, mức phạt 750.000 đồng. T5 đã chấp hành xong khoản tiền phạt này. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 230 ngày 25/11/2014, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt T5 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Cố ý gây thương tích”. Nộp xong khoản án phí HSST ngày 25/11/2014. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 30 ngày 31/5/2017, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt T5 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 230 ngày 25/11/2014 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, buộc T5 phải chấp hành 51 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2020. Nộp xong án phí HSST ngày 03/11/2017. Tại Quyết định số 161 ngày 21/11/2022, Công an thị xã P xử phạt vi phạm hành chính đối với T5 về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, mức phạt 6.500.000 đồng; T5 chưa chấp hành khoản tiền nộp phạt này. Ngoài các biên bản xác minh, đôn đốc, không có Quyết định cưỡng chế thi hành của Cơ quan ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 29/6/2024. Từ ngày 29/6/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Trần Đức C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18 tháng 7 năm 1996, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Trần Minh Đ, sinh năm: 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ đẻ: Dương Thị H3 (Đã chết); Vợ: Lò Thị N2, sinh năm: 2001; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định số 244 ngày 30/3/2011, UBND thị xã P ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G1, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 01/01/2013. Tại Quyết định số 14/QĐ-XPHC ngày 06/6/2013, Công an phường Â, thị xã P xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi cất giấu trong người dao nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.750.000 đồng. Chấp hành xong ngày 11/6/2013. Tại Quyết định số 51/QĐ-XPHC ngày 26/9/2013, Công an thị xã P xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi mua bán số lô, số đề, hình thức phạt tiền, mức phạt 350.000 đồng; C chưa chấp hành khoản tiền nộp phạt này. Ngoài các biên bản xác minh, đôn đốc, không có Quyết định cưỡng chế thi hành của Cơ quan ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04 ngày 29/01/2016, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt C 33 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 09/08/2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018. Chấp hành xong khoản án phí HSST và khoản tiền bồi thường ngày 22/3/2016. Tại Quyết định số 142/QĐ-XPHC ngày 15/10/2020, Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác, hình thức phạt tiền, mức phạt 2.500.000 đồng. C chưa chấp hành khoản tiền nộp phạt này. Ngoài các biên bản xác minh, đôn đốc, không có Quyết định cưỡng chế thi hành của Cơ quan ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/3/2024 đến ngày 17/6/2024. Từ ngày 17/6/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “Tạm giam” sang “Bảo lĩnh”. Từ ngày 01/10/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Ngoài ra còn có 13 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.
(Các bị cáo K, L1, L, người đại diện, người bào chữa đều có mặt phiên toà)
Người tham gia tố tụng khác không liên quan đến kháng cáo: Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, Trần Hoài L1, sinh năm 1998, trú tại khu dân cư T, phường H, thị xã P (thường gọi là L1 “cận”) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG5, màu trắng, biển số 19A-535.09 chở Hoàng Tiến D1, sinh năm 1998, trú tại khu V, xã V, thị xã P (thường gọi là D1 “Mẩu”) đến quán Karaoke R do anh Hà Thanh T7, sinh năm: 1991, trú tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ làm chủ, để uống bia, hát karaoke cùng với anh Trần Văn C1, sinh năm 1998, trú tại khu A, xã P, thị xã P (thường gọi là C1 “tám”). Lúc này, tại quán K2, ngoài anh C1, còn có Nguyễn Anh T5, sinh năm 1991, trú tại khu dân cư T, phường Â, thị xã P (thường gọi là T5 “bờm”), Nguyễn Anh N3, sinh năm 1993, trú tại khu dân cư N, phường Â, thị xã P (thường gọi là N3 “Pow”), Trần Ngọc A1, sinh năm 1991, trú tại khu dân cư P, phường P, thị xã P (thường gọi là Cu A2), Phan Trương C2, sinh năm 2005, trú tại khu C, xã L, huyện T (thường gọi là C2 “môi” hoặc Chi “PT”) và một số người bạn khác không rõ tên tuổi, địa chỉ. Do say rượu nên Trần Ngọc A1 gọi điện thoại cho Trần Huy H4, sinh năm 2002, trú tại khu dân cư C, xã T, thị xã P (thường gọi là H4 “lợn”) đến đón. Trần Huy H4 đồng ý và rủ thêm Lê Đức L2, sinh năm 2002, trú tại khu H, xã H, thị xã P đi cùng. H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer (không rõ BKS) đi trước còn Lê Đức L2 điều khiển xe đạp điện đi sau. Khi L1 “cận” chở D1 “mẩu” đến nơi thì gặp N3 “pow” đi ra. Do có quen biết từ trước nên N3 nhờ L1 “cận” chở về; L1 “cận” đồng ý điều khiển xe ô tô chở N3 và Trần Ngọc A1 về còn để D1 “mẩu” ở lại quán. Quá trình hát tại quán, giữa T5 “bờm” và Trần Đức C, sinh năm 1996, trú tại khu H, xã H, thị xã P (thường gọi là C “con”) cũng là khách đến hát đã xảy ra mâu thuẫn, xô xát đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn nên không có hậu quả. Sau đó, C “con” tiếp tục đi ra sân, chửi bới T5; thì D1 “mẩu” vừa đi đến nghĩ C “con” chửi mình nên đã dùng tay đấm một cái vào mặt của C “con”. Bực tức vì bị D1 “mẩu” đấm, C“con” gọi điện cho Nguyễn Văn T3, sinh năm 2001, trú tại khu D, xã T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là T3 “bi”) đến để nhờ T3 “bi” giúp. Cùng lúc này, tại nhà trọ của T3 “bi” thuê ở khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ còn có bạn là Nguyễn Minh Q, sinh năm 2001, trú tại xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là Q “cỏ”) nên T3 “bi” rủ Q “cỏ” đi cùng; đồng thời gọi điện thoại cho Hoàng Công L3, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc rủ L3 đi đánh nhau giúp C “con”. Tại thời điểm T3 “bi” gọi điện, Hoàng Công L3 đang ở quán B thuộc khu D, xã P, thị xã P cùng Trần H5, sinh năm 2000, trú tại khu F, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Trần Văn V, sinh ngày 16/6/2006, Dương Phi L, sinh ngày 20/01/2006, Trương Trung K, sinh ngày 09/2/2007, Lê Văn H6, sinh năm 2005, Hoàng Trọng L4, sinh năm 2003 đều trú tại xã V, thị xã P; Nguyễn Đan T8, sinh năm 2004, trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là T8 “trề”); Đặng Thanh T9, sinh ngày 17/10/2006, trú tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (thường gọi là T9 “Bin”) đều là bạn quen biết nhau và biết T9 “bị” từ trước nên tất cả đều đồng ý cùng nhau đi giúp C “con”. T8 “trề” điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (không rõ BKS) chở H5; K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave (không rõ BKS) chở V cầm theo dao quắm; H6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave, màu trắng, biển số 19M1-266.07 của H6 chở L; L4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave, màu đen, biển số 19M1-266.49 chở T9 “bin” cầm theo dao (dạng phớ) và L3 cầm theo chuôi gậy bi-a; đi theo đường H đến quán K2. Q “cỏ” điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA wave, màu trắng chở T9 “Bi” cầm theo một chiếc phóng lợn, dài khoảng 02 mét và hai chiếc kiếm dài khoảng 01 mét đi đến quán K2.
Thấy C “con” gọi người đến để đánh nhau nên T5 “bờm” gọi điện thoại cho N3 “pow” quay lại, D1 “mẩu” cũng gọi điện thoại cho L3 “cận”, Lê Xuân S, sinh năm 1998, trú tại khu P, xã H, thị xã P (thường gọi là Sáng “lê”) đến. Sau khi nhận được thông tin trên, L3 “cận” điều khiển xe ô tô biển số 19A-535.09 (bên trong xe có 03 chiếc gậy bóng chày) chở N3 “pow” và Trần Ngọc A1 quay lại quán K2. Khi dừng xe ở trên đường H dưới gầm cầu H thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, L3 “cận” giao lại xe ô tô cho N3 “pow” và cầm một chiếc gậy bóng chày chạy bộ vào trong quán K2; Lê Xuân S đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, màu đen (không rõ BKS) của S, bên trong cốp xe để một con dao bằng kim loại, dài khoảng 25cm và trên tay S cầm một chiếc đao dài khoảng 80cm đến quán K2.
Khi K chở V đến quán K2 thì gặp T5 “bờm” đang đứng ở cửa, T5 thấy V cầm dao quắm đến nên thách thức đánh nhau, V cầm dao quắm lao đến chém T5 nhưng được những người có mặt ở đây can ngăn nên không chém được. L3 “cận” chạy vào kéo D1 “mẩu” chạy bộ ra đường H còn Sáng “lê” đến nơi thấy xảy ra xô sát nhưng đã được can ngăn nên giấu chiếc đao trong bụi cây trước cửa quán, rồi điều khiển xe mô tô đến quán K3 thuộc xã H, thị xã P ngồi chơi. Phan Trương C2 thấy L3 “cận” bỏ đi nên đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng (không rõ BKS) phóng theo. Cùng lúc này T8 “trề” chở H5; H6 chở L; L4 chở Đặng Thanh T9 vào quán karaoke R còn Hoàng Công L3 đứng ở gầm cầu H. T8 “trề”, T9 “bin” đập vỏ chai bia xuống sân để khiêu khích đánh nhau nhưng được H5 và những người ở đó can ngăn. Do thấy C2 “môi”, L3 “cận”, D1 “mẩu” cầm theo gậy bóng chày chạy ra ngoài đường nên K, V, T9 “bin”, L4, T8 “trề” đuổi theo. T8 “trề” chở H5 ra đến gầm cầu H thì xe mô tô của T8 “trề” bị hỏng nên T8 đã giấu chiếc xe ở gầm cầu. H6 chở T9 “bin” ra đến gầm cầu H thì dừng lại đứng ở gầm cầu cùng Hoàng Công L3, T8 “trề” và H5. T9 “bin” tiếp tục điều khiển xe cùng V, K, L4, L dồn theo C2 “môi”, L3 “cận” và D1 “mẩu” về phía khách sạn H8 thuộc xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Lúc này, Q “cỏ” chở T9 “bi” đi đến gầm cầu H thì L3 nói cho biết nhóm của L3 “cận” bỏ chạy về phía trung tâm thị xã P, T9 “bi” đưa cho Hoàng Công L3 một chiếc kiếm rồi Q “cỏ” tiếp tục chở T9 “bi” và T8 “trề” đi về hướng trung tâm thị xã P để tìm nhóm L3 “cận”, trên đường đi T9 “bi” đưa cho T8 “trề” chiếc phóng lợn. Lúc này, C2 “môi” điều khiển xe mô tô đến gần đầu ngõ vào khách sạn H8 thì gặp L3 “cận”, D1 “mẩu” đang chạy bộ nên dừng xe lại. Đồng thời nhóm của V cũng dồn đến thì L3 “cận” giấu chiếc gậy bóng chày đang cầm và cùng C2 “môi”, D1 “mẩu” đi ra gặp nhóm của V. Nhóm của L3 “cận” nói với nhóm của V là “người nhà”. Nhóm của V nghĩ nhóm của L3 “cận” cũng đến giúp C “con” nên hai bên không đánh nhau mà V cho C2 “môi” đi cùng về hướng trung tâm thị xã P để tìm nhóm mâu thuẫn với C “con”.
Do không tìm được nên khi đi đến ngã tư đền T12 thuộc xã V, thị xã P thì nhóm của V quay lại quán K2. Trên đường đi, C2 “môi” cầm con dao quắm của V và xuống xe ngang đường. Còn nhóm của V tiếp tục đi về quán K2. Nhóm Q “cỏ” không tìm được nhóm L3 “cận” nên cũng quay lại quán K2. Khi nhóm của V quay lại gầm cầu H thì L3 điều khiển xe mô tô của H6 chở T9 “bin” đi vào trong quán K2, còn H6, H5 đứng ở gầm cầu H không tham gia đánh nhau.
Sau khi L3 “cận” giao lại xe ô tô nhưng không thấy quay lại nên N3 cùng Trần Ngọc A1 đi vào trong quán K2 thì gặp T5 “bờm”, Trần Ngọc Al say rượu nên ngồi ở trong quán không tham gia đánh nhau còn N3 và T5 “bờm” lao đến đánh nhau với C “con”, Q “cỏ”, T8 “trề”, T9 “bin”, T9 “bi”, K, V, L4, L, L3. Q “cỏ” nhặt gạch ném về phía N3 nhưng không trúng; V cầm phóng lợn chém về phía T5 “bờm” nhưng T5 “bờm” bỏ chạy vào trong quán, C “con” giằng lấy phóng lợn của V để đánh nhau thì V nhặt gạch ném về phía N3 nhưng không trúng; T9 “bin” cầm vỏ chai bia bằng thủy tinh ở quán ném xuống sân thì bị chủ quán hát giằng lấy con dao T9 “bin” đang cầm trên tay. T9 “bin” tiếp tục nhặt gạch ném nhóm N3 và lao vào dùng tay đấm vào mặt N3; Hoàng Công L3 lấy bát sứ (loại bát ăn cơm) trong quán ném về phía N; L4 lao đến dùng tay đấm N3; L nhặt gạch ném nhóm của N3. T5 “bờm” bị dồn đánh nên chạy vào trong quán còn N3 chạy vào trong bếp của quán, giằng chiếc kiếm của T9 “bi” nhưng không được, sau đó N3 nhặt đoạn sắt ở nền quán đánh lại nhóm C “con”. Lúc này Trần Huy H4 cũng đi xe mô tô đến quán K2 đón Trần Ngọc A1 nhưng thấy đánh nhau nên đứng ngoài xem. Nhóm của C “con” nghe thấy có người nói “công an đến” nên nhóm C “con” bỏ ra ngoài đường. T5 “bờm” nhặt gạch ném về phía nhóm C “con”, rồi tiếp tục nhặt một con dao quắm cùng N3 “pow” dồn theo thì bị nhóm C “con” nhặt gạch ném lại. Sau đó nhóm C “con” đi trên 03 xe mô tô đi về quán bia của C “con” thuộc xã H, thị xã P, H6 cũng đi theo về quán bia, còn Trần H5 đi bộ ra đường và đi nhờ người dân về quán B-a X9 trước. Khi đến nơi, Hoàng Công L3 và H6 ở lại quán bia, những người còn lại đi về quán bi-a X9.
Lúc này, nhóm của N3 đứng ở đường H dưới gầm cầu H gồm N3 “pow”, L3 “cận”, T5 “bờm”, D1 “mẩu”, Trần Ngọc A1, H4 “lợn”, C1 “tám”, Lê Đức L2. L3 “cận” gọi điện cho C2 “môi” đi đón Sáng “lê” còn bản thân điều khiển xe ô tô đi đón Trần Tuấn D2, sinh năm 1993, trú tại khu N, xã H, thị xã P (thường gọi là D2 “phó họ”) theo yêu cầu của N3 “pow”. Sau khi được N3 “pow” gọi điện nhờ đến đánh nhau thì D2 “phó họ” gọi điện thoại cho Trần Quốc M, sinh năm 2000, trú tại khu V, xã V, thị xã P rủ đi đánh nhau cùng và bảo M đến phòng trọ của D2 ở khu L, xã H, thị xã P lấy hung khí. Lúc này, M đang đi cùng Bùi Thái D3, sinh năm 2005 và Bùi Trung K1, sinh năm 2002 đều trú tại khu N, xã H, thị xã P nên mở loa ngoài cho D3 và K1 cùng nghe thì D3 và K1 đều đồng ý đi đánh nhau giúp N3 “pow”. Kết điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision (không rõ BKS) chở M và D3 đi về phòng trọ của D2 “phó họ”. Khi đến nơi, K1 lấy hai con dao quắm trong đó một chiếc có phần lưỡi dao giống lưỡi liềm, hai chiếc tuýp sắt, một chiếc kiếm có vỏ bao bằng gỗ màu nâu đựng trong túi tải. Sau đó, K1 điều khiển xe mô tô chở D3 và M đến gặp nhóm của N3 và để bao tải đựng hung khí ở lề đường cạnh chỗ nhóm của N3 đứng. Trong khoảng thời gian này, C2 “môi” đến quán K3 thì gặp S “lê” và Ngô Quốc V1, sinh năm 2007, trú tại xã V, thị xã P (thường gọi là V1 “mùi”). Do xe mô tô của C2 “môi” sử dụng sắp hết xăng nên V1 đã chở C2 “môi” và Sáng “lê” đến gầm cầu H để mang xe mô tô quay lại quán MTP giúp C2 “môi”. Sáng “lê” giấu con dao lúc trước để trong cốp xe vào trong áo đang mặc. Sau khi đến tập trung cùng nhóm của N3 thì C2 “môi” hỏi S “lê” về chiếc đao lúc trước C2 nhìn thấy S cầm đến thì được S chỉ vị trí đã cất giấu. Chi “môi” lấy chiếc đao mang ra, rồi N3 “pow” cầm chiếc đao này. Một lúc sau, L3 “cận” chở D2 “phó họ” đến, L3 “cận” đưa cho D2 “mẩu” một chiếc gậy bóng chày, D2 “phó họ” cầm một chiếc tuýp sắt, M lấy một chiếc dao quắm và chiếc kiếm trong túi tải K1 mang theo cầm ở tay, Dương cầm chiếc dao quắm dạng liềm còn C2 “môi” cầm dao quắm. L3 “cận” điều khiển xe ô tô biển số 19A-535.09 chở N3 “pow” cầm theo chiếc đao; T5 “bờm” cầm theo một chiếc dao quắm; D2 “mẩu” cầm gậy bóng chày còn S cầm theo dao. Kết điều khiển xe mô tô chở M và D3. H4 “lợn” điều khiển xe mô tô chở D2 “phó họ” và C2 “môi”. Còn Trần Ngọc A1, L2, V1, C1 “tám” không tham gia đánh nhau nên đi về. Nhóm của N3 “pow” đi đến nhà trọ của Q “cỏ” thuộc khu A, xã P, thị xã P để tìm nhóm của C “con” tiếp tục đánh nhau.
Sau khi về đến quán B, K và L2 đi đến nhà trọ của Q “cỏ” lấy thêm 04 tuýp sắt mang đến quán B để chuẩn bị đánh nhau. Q “cỏ” bảo V đi xe mô tô theo hướng về trung tâm thị xã; T9 “bin” và L4 đi về hướng xã P, huyện P để tìm nhóm của N3 “pow” báo lại cho Q biết. Khi đi T9 “bin” và L4 chở theo 01 két bia bên trong có nhiều vỏ chai thủy tinh đi qua nhà trọ của Q “cỏ” thì gặp nhóm của N3 đi đến nhưng nghĩ là cùng nhóm nên đi theo. Khi đến gần cổng nhà trọ thì bất ngờ bị D2 “phó họ” cầm tuýp sắt và C2 “môi” cầm theo dao quắm xuống xe chạy bộ về phía xe của T9 “bin” chở L4 đi đến. Thấy vậy T9 “bin” điều khiển xe quay lại thì bị C2 “môi” dùng dao quắm chém vào người L4. T9 “bin” và L4 bỏ chạy nên đã vứt bỏ két vỏ chai bia trên đường rồi T9 “bin” đưa L4 đi sơ cứu vết thương tại Trung tâm y tế huyện P. Sau khi không tìm được nhóm C “con” tại nhà trọ thì nhóm N3 tiếp tục đi đến quán B.
Trong lúc này, tại quán B có C “con”, L2, K, Q “cỏ”, T8 “trề”, T9 “bi”, H5, Lò Văn Đ1, sinh năm 2003 và Lý Văn H7, sinh năm 2005 nhà đều ở huyện S, tỉnh Lai Châu (là em vợ của Trần Đức C). H5, Đ1 và H7 không tham gia đánh nhau nên đứng ở trong quán B-a còn C “con”, L2, K, Q “cỏ”, T8 “trề”, T9 “bi” đã chuẩn bị kiếm, gạch, đá, tuýp sắt, dao phóng lợn có cán dài tụ tập tại đầu ngõ gần quán B để chuẩn bị đánh nhau với nhóm của N3 “pow”. C “con” cầm kiếm, T8 “trề”, T9 “bi”, K và L2 mỗi người cầm một chiếc tuýp sắt, Q “cỏ” nhặt gạch xếp thành đống và cầm chiếc cuốc, sau đó để chiếc cuốc ở lề đường. Khi nhóm của N3 “pow” quay lại quán bi-a X9 thì thấy nhóm của C “con” tập trung trên ngõ nên L3 “cận” điều khiển xe ô tô biển số 19A-535.09 đến gặp nhóm của C “con”. Thấy vậy, K sử dụng tuýp sắt đập vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô và đập vào thành xe phía bên ghế lái. T9 “bi” nhặt gạch ném vào ô tô, dùng tuýp sắt đập vào nắp ca pô, thành xe ô tô bên ghế lái và đập vào kính chắn gió phía sau làm kính bị vỡ. L3 “cận” điều khiển xe ô tô lùi lại để quay đầu thì K nhặt gạch ở đường ném trúng vào cánh cửa phía sau bên ghế lái. L2 dùng tuýp sắt đập vào nắp ca pô và đập 1 cái dọc theo thành xe bên ghế phụ. T9 “bi” tiếp tục dùng tuýp sắt chọc vào thành xe bên lái. K dùng tuýp sắt đập vào cốp xe ô tô làm cốp xe mở ra. T8 “trề” dùng tuýp sắt đập vào thành xe bên ghế phụ. Q “cỏ” nhặt hai viên gạch ném trúng vào xe ô tô. L3 “cận” điều khiển xe đi xuống đường Hùng Vương hướng về trung tâm thị xã P thì nhóm của T9 “bi” tiếp tục dồn theo. Nhật “pow”, T5 “bờm” xuống xe cầm hung khí dồn đuổi lại. C “con” chạy lên đầu ngõ tay cầm kiếm và nhặt chiếc cuốc của Q “cỏ” lúc trước để ở đường. T9 “bi” cũng cầm tuýp sắt chạy lên đầu ngõ. N3 “pow” cầm chiếc đao đi đến thì C “con” quăng kiếm và cuốc về phía N3 đồng thời bỏ chạy. Cùng lúc này T5 “bờm” cầm dao quắm lao đến dồn đuổi theo C “con” còn N3 “pow” dồn theo T9 “bi” chạy về cuối ngõ. L3 “cận” điều khiển xe đi quay lại đầu ngõ thì D2 “mẩu” xuống xe, cùng lúc này xe mô tô do H4 và K1 điều khiển đi đến. D2 “phó họ”, C2 “môi”, M, cùng D2 “mẩu” cầm hung khí dồn đuổi nhóm của C “con”. Kết chở D3 sang phía bên kia đường thì dừng lại và cầm hung khí lao đến để đánh nhau. H4 điều khiển xe mô tô sang đứng bên đường đối diện. D2 “phó họ” cầm tuýp sắt, D2 “mẩu” cầm gậy bóng chày, M đưa chiếc kiếm cho K1 và đưa dao quắm cho C2 “môi” cầm, Dương cầm liềm, M nhặt gạch. L3 “cận” điều khiển xe ô tô lao đến đầu ngõ thì va vào D2 “phó họ” làm D2 “phó họ” bị ngã ra đường nhưng không để lại thương tích gì. Khi thấy N3 dồn đuổi theo T9 “bi” về cuối ngõ thì M cầm gạch đuổi theo ném nhưng không trúng do T9 “bi” bỏ chạy thoát được. Nhóm N3 “pow” dồn đuổi Q “cỏ” chạy vào trong quán B, trong quán bi-a lúc này không có điện. Khi thấy 02 nhóm dồn đuổi đánh nhau và có tiếng hò hét thì H5, H7 và Đinh hoảng S1, H5 trốn vào nhà vệ sinh trong phòng ngủ còn Đ1 và H7 chạy ra phía bếp và trèo qua bờ rào thoát ra ngoài. Ở phía trước cửa quán, hai nhóm sử dụng quả bi-a, gạch đá ném và chửi bới, hò hét thách thức đánh nhau. Sau đó, Q “cỏ” bỏ chạy thoát ra phía sau quán. Nhóm N3 “pow” đi vào trong quán thì C2 “môi” phát hiện Trần H5 đang trốn trong nhà vệ sinh nên đã chém 1 cái về phía Trần H5 nhưng không biết trúng hay không. Trần Hưng C3 đầu bỏ chạy ra ngoài thì bị nhóm của N3 “pow” chém gây thương tích vùng gáy, vùng chẩm trái, vùng đỉnh phải nhưng không xác định ai gây ra. Sau đó, H5 bỏ chạy thoát được ra ngoài cửa quán thì bị K1 cầm chiếc kiếm có vỏ bằng gỗ dồn theo đập 02 cái vào người, đồng thời Dương cầm liềm đuổi theo. Khi ra đến cửa quán H5 bị ngã, Dương cầm liềm đập phần sống liềm vào người H5 một cái, rồi H5 đứng dậy chạy thoát được. Nhóm của N3 tiếp tục quay lại nhà trọ của Q “cỏ” để tìm nhóm của C “con” nhưng không thấy nên bỏ về.
Hậu quả:
+ Trần Đức C bị Nguyễn Anh T5 dùng dao quắm chém rách da chảy máu ở mặt sau vai phải và trong quá trình đồn đuổi đánh nhau bị 01 vết thương xước da ở mặt trước trong cẳng tay trái không xác định được do ai gây ra. Sau đó, C đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P.
+ Phan Trương C2 bị Trương Trung K sử dụng tuýp sắt đập vào tay dẫn đến gãy xương đốt IV bàn tay phải. Chi đến Bệnh viện đa khoa thị xã P khám và bó bột cố định xương tay nhưng không điều trị tại Bệnh viện.
+ Hoàng Trọng L4 bị Phan Trương C2 sử dụng dao quắm chém rách da dài khoảng 5cm ở trước đỉnh đầu. L4 đến Trung tâm y tế huyện P sơ cứu vết thương nhưng không điều trị tại Trung tâm y tế.
+ Nguyễn Anh N3 bị 01 vết thương ở vùng trán phải, rách da chảy máu, kích thước 2 cm x 3 cm; 01 vết bầm tím, xát da rớm máu ở vùng trán trái; 01 vết thương rách da chảy máu kích thước 01cm ở cằm; Gãy xương đốt I ngón 3 và đốt bàn ngón 5 bàn tay phải.
+ Trần H5 bị vết thương kích thước 10 cm x 01 cm x 01 cm, bờ mép sắc gọn, đã cầm máu ở vùng gáy. Vùng chẩm lệch trái có 01 vết thương rách da chảy máu kích thước 5cm x 1cm, sâu sát xương và 01 vết thương rách da nhỏ kích thước 2 cm x 0,5cm sưng nề nhẹ, có tụ máu dưới da đầu, vết thương có bờ mép nham nhở. Vùng đỉnh phải có vết thương rách da, chảy máu, kích thước 3cm x 1cm, sau sát xương, vết thương có bờ mép nham nhở. Gối trái có vết thương rách da dài khoảng 2cm, xung quanh có nhiều vết xây sát sưng nề rớm máu, hạn chế vận động. Gối phải có vết xây sát da không chảy máu, sưng nề nhẹ.
+ Nguyễn Anh T5 bị 01 vết xước da rớm máu kích thước 01 cm ở trên đỉnh đầu; 01 vết xước da dài 0,5cm ở nếp lằn trong khuỷu tay phải do quá trình sử dụng hung khí dồn đuổi đánh nhau nên T5 không xác định được do ai gây ra.
+ Xe ô tô biển số 19A-535.09 bị hư hỏng cụ thể: gẫy vỡ gương chiếu hậu bên trái, vỡ kính chắn gió phía trước, thân xe có nhiều vết lõm, xước sơn.
+ Quán B bị vỡ hỏng 08 (tám) ô kính, loại kính trắng 01 lớp, dày 04mm. Quán K2 không bị hư hỏng gì nhưng hoạt động kinh doanh của quán bị ảnh hưởng.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) viên gạch không rõ hình dạng gạch lục giác, kích thước 20cm x 10cm x 5cm; 01 (một) viên gạch, dạng gạch chỉ màu đỏ, kích thước 10cm x 12cm x 5,5cm; 01 (một) viên gạch, kích thước 12cm x 8cm x 6,5cm; 01 (một) viên gạch, kích thước 9cm x 11cm x 5,5cm; 01 (một) viên gạch kích thước 21,5 cm x 10 cm x 5,5 cm; 13 (mười ba) đoạn gậy gỗ, dạng gậy bi-a và một số mảnh kính vỡ có kích thước khác nhau; 03 (ba) gậy bóng chày, màu đen có chữ “BAT” có kích thước dài bằng nhau là 69 cm, đường kính rộng nhất là 05cm; 01 (một) thanh kim loại dạng kiếm có một lưỡi sắc, dài 70cm, lưỡi sắc dài 46,5cm, cán được quấn dây dù màu đen, chỉ đỏ; 01 (một) con dao quắm dài 59cm có một lưỡi sắc, phần lưỡi dài 18cm, rộng nhất 13cm, phần cán bị cong móp; 01 (một) con dao dài 32cm, có một lưỡi sắc dài 21,5cm, bản rộng nhất là 3cm; 01 (một) ống kim loại dài 1,5m, đường kính 3,5cm; 01 (một) gậy tre dài dài 1,2 m, đường kính 4 cm. Ngoài ra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P còn tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại quán K2 thuộc xã H, thị xã P và nhà trọ của Nguyễn Minh Q thuộc khu A, xã P, thị xã P, quá trình xác định hiện trường không thu giữ đồ vật gì.
Quá trình giải quyết, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P nhận được nhiều phản ánh chính quyền, đoàn thể xã H, thị xã P, chính quyền đoàn thể xã P, thị xã P, của quần chúng nhân dân, của Ban Q1 về việc: sự việc xảy ra đã gây mất tình hình an ninh trật tự của địa phương gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Nội dung phản ánh của quần chúng nhân dân và các tổ chức trên địa bàn đều tỏ rõ sự lo lắng, bất an, hoang mang lo sợ ảnh hưởng đến sức khỏe, tài sản, hoạt động bình thường của các cá nhân, tổ chức và đề nghị cơ quan điều tra xác minh xử lý nghiêm vụ việc trên góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.
Ngày 27/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND thị xã P định giá xác định giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô biển số 19A-535.09 và 08 ô kính của của quán B bị hư hỏng. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 07/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã P kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại MG5, màu trắng, số khung: MMLA36U35NG019490, số máy: 15S4C5QTN4070036, biển số 19A-535.09 là 28.850.000₫ (Hai mươi tám triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Giá trị thiệt hại 08 ô kính, loại kính trắng 01 lớp, dày 04mm là 1.480.000đ (Một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
Ngày 08/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh P giám định tính chất thương tích và mức độ tổn hại sức khỏe của Trần Đức C, Phan Trương C2, Hoàng Trọng L4, Trần H5. Đối với Nguyễn Anh N3 hiện vẫn đang bỏ trốn do đó chưa Trưng cầu giám định thương tích. Đối với Nguyễn Anh T5 bị thương tích nhẹ, không đi điều trị tại cơ sở y tế nào, bản thân Nguyễn Anh T5 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu đề nghị gì. Tại các bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh P gồm: Bản kết luận số 59 ngày 10/4/2024 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Đức C là 03% (Ba phần trăm); Bản kết luận số 61 ngày10/4/2024 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Trương C2 là 06% (Sáu phần trăm); Bản kết luận số 60 ngày 10/4/2024 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Trọng L4 là 01 % (Một phần trăm). Đối với Trần H5 đã có đơn từ chối giám định thương tích. Ngày 15/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P ra Quyết định dẫn giải đối với Trần H5 đưa đi giám định, tuy nhiên Trần H5 không chấp hành việc giám định thương tích nêu trên. Ngay sau khi nhận kết quả giám định thì Trần Đức C, Phan Trương C2, Hoàng Trọng L4 đã có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, việc Trần Đức C, Phan Trương C2, Hoàng Trọng L4 không đề nghị là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc.
Xét thấy việc nhóm của Nguyễn Anh T5 và nhóm của Trần Đức C mâu thuẫn với nhau tại quán K2 là đơn giản nhưng các đối tượng đã lôi kéo, tụ tập nhiều đối tượng khác mang theo hung khí, phương tiện để dồn đuổi đánh nhau trên nhiều địa bàn xã, ở nhiều khu vực khác nhau, xảy ra tại các cửa hàng, các quán kinh doanh. Đồng thời các đối tượng truy đuổi nhau, hò hét, chửi bới, đập phá tài sản với giá trị lớn, gây thương tích cho nhau, diễn ra trong khoảng thời gian dài, trên dọc các tuyến đường có nhiều hộ dân sinh sống. Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm dồn đuổi đánh nhau tại nhiều nơi trên những đoạn đường quốc lộ, tuyến đường huyết mạch của thị xã P dẫn vào khu công nghiệp có nhiều Công ty hiện đang đầu tư kinh doanh thể hiện hành vi của các đối tượng manh động, côn đồ, coi thường pháp luật, hành vi của các đối tượng đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người tham gia giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị tại xã H, xã P, thị xã P nói riêng và địa bàn thị xã P nói chung, gây tâm lý hoang mang lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân, các cơ quan, tổ chức trên địa bàn, nhiều đối tượng bị thương tích, nhiều tài sản bị hư hỏng, trong đó, chiếc xe ô tô BKS 19A-535.09 bị thiệt hại 28.850.000 đồng.
Tại Cơ quan CSĐT, Phan Trương C2, Trần Hoài L1, Hoàng Tiến D1, Lê Xuân S, Nguyễn Anh T5, Trần Đức C, Trương Trung K, Dương Phi L, Hoàng Trọng L4, Nguyễn Minh Q, Đặng Thanh T9, Trần Văn V, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Đan T8, Trần Tuấn D2, Hoàng Công L3, Trần Quốc M, Bùi Trung K1, Bùi Thái D3, Trần Huy H4 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai của các bị can phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 BLHS; khoản 1 Điều 178, điểm b, s, khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101, khoản 1 Điều 55 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Dương Phi L phạm tội “gây rối trật tự công cộng” và tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” xử phạt bị cáo Dương Phi L 24 (hai mươi tư) tháng tù “gây rối trật tự công cộng” và 06 tháng tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 17/6/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 BLHS, khoản 1 Điều 178, điểm b, t, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 100, khoản 1 Điều 55 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Trương Trung K phạm tội “gây rối trật tự công cộng” và tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” xử phạt bị cáo Trương Trung K 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “gây rối trật tự công cộng” và 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”; quy đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 ngày tù tương ứng 02 tháng tù. Buộc bị cáo K phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 22/3/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Trần Hoài L1 phạm tội “gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Linh tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo L1 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 17/6/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh T5, Trần Đức C phạm tội “gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt mỗi bị cáo 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo T5, bị cáo C tính từ ngày bắt các bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo T5 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 29/6/2024; bị cáo C được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 đến ngày 17/6/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, khoản 1 Điều 178, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 55 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “gây rối trật tự công cộng” và tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 30 tháng tù về tội “gây rối trật tự công cộng” và 09 (C4) tháng tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo Q phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 29/6/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, khoản 1 Điều 178, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; khoản 1 Điều 55 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T3 phạm tội “gây rối trật tự công cộng” và tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 27 (Hai mươi bảy) “gây rối trật tự công cộng” và 09 (chín) tháng tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo T3 phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến ngày 01/8/2024.
Bản án còn tuyên về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 06/12/2024, bị cáo Trương Trung K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; Ngày 09/12/2024, bị cáo Trần Hoài L1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 10/12/2024, bị cáo Dương Phi L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Cùng ngày 12/12/2024, các bị cáo Nguyễn Văn T3, Nguyễn Minh Q, Trần Đức C, Nguyễn Anh T5 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Cùng ngày 25/02/2025, các bị cáo Nguyễn Văn T3, Nguyễn Minh Q, Trần Đức C có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Ngày 28/3/2025, bị cáo Nguyễn Anh T5 có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo L1 giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các bị cáo K và L bổ sung nội dung kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt. Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo K đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 178, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 55 BLHS; Khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố bị cáo Dương Phi L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” xử phạt bị cáo Dương Phi L 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 18 tháng tù.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS; Khoản 1 Điều 178, điểm b, s, t, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55 BLHS; Khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố bị cáo Trương Trung K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Trương Trung K 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Quy đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 ngày tù tương ứng 02 (Hai) tháng tù. Buộc bị cáo K phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 22/3/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Trần Hoài L1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Trần Hoài L1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Linh tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo L1 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 17/6/2024.
Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Trần Hoài L1, Trương Trung K, Dương Phi L, Nguyễn Anh T5, Trần Đức C, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Văn T3 nộp trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Văn T3, Trần Đức C, Nguyễn Anh T5 đã có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ra các Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Về căn cứ, chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
[2.1] Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 22/01/2023, tại quán K2 thuộc khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa bị cáo Nguyễn Anh T5 và bị cáo Trần Đức C; bị cáo Nguyễn Anh T5 và Trần Đức C đã lôi kéo, tụ tập nhiều đối tượng gồm: Phan Trương C2, Trần Hoài L1, Hoàng Tiến D1, Lê Xuân S, Trương Trung K, Dương Phi L, Hoàng Trọng L4, Nguyễn Minh Q, Đặng Thanh T9, Trần Văn V, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Đan T8, Trần Tuấn D2, Hoàng Công L3, Trần Quốc M, Bùi Trung K1, Bùi Thái D3 và Trần Huy H4 đã thực hiện hành vi hò hét, chửi bới, mang theo hung khí gậy gỗ, ống tuýp kim loại, dao dài, dao quắm, gạch, cuốc xẻng cùng phương tiện ô tô, xe máy dồn đuổi, đánh nhau, đập phá tài sản có giá trị lớn, trên địa bàn xã H và xã P, thị xã P; tại các cửa hàng, quán kinh doanh ở nhiều khu vực khác nhau, trên tuyến đường quốc lộ và các tuyến đường huyết mạch của thị xã P, tỉnh Phú Thọ dẫn vào Khu công nghiệp có nhiều Công ty đang đầu tư kinh doanh, có lưu lượng phương tiện tham gia giao thông lớn, là nơi công cộng, hai bên đường có nhiều hộ dân sinh sống, hành vi của các đối tượng diễn ra trong khoảng thời gian dài, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
[2.2] Đối với các bị cáo Trương Trung K, Dương Phi L, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Minh Q và Nguyễn Đan T8 trong quá trình gây rối trật tự công cộng còn thực hiện hành vi đập phá xe ô tô BKS 19A-535.09 gây thiệt hại 28.850.000 đồng đã cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.
[3] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bản án của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm:
[4.1] Bị cáo Trần Hoài L1 đã nộp đơn xác nhận cứu người đuối nước là cháu Nguyễn Quỳnh A3 là con gái anh Nguyễn Văn T10, có xác nhận của UBND phường P, thị xã P. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4.2] Bị cáo Trương Trung K đã nộp phiếu thu ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 3.000.000 đồng, có xác nhận của UBMTTQ xã Văn Lung, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bị cáo Dương Phi L nộp giấy xác nhận ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa số tiền 3.000.000 đồng, có xác nhận của UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, ông ngoại bị cáo là ông Mai Thanh T11 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4.3] Xét kháng cáo của bị cáo Trương Trung K, Dương Phi L xin được hưởng án treo, tại phiên tòa đều bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Trần Hoài L1 kháng cáo và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt. Thấy rằng: Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của vụ án, cân nhắc đến vai trò của từng bị cáo, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt cho từng bị cáo là phù hợp, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên được xem xét theo quy định pháp luật. Vì các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng cho các bị cáo thêm Điều 54 BLHS để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Vì các bị cáo K và L khi phạm tội là người chưa thành niên nên áp dụng Điều 119 và Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, ngày 30/11/2024 để xử lý đối với các bị cáo. Do vậy Bản án sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ được sửa vì lỗi khách quan.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Người bào chữa cho bị cáo K không tranh luận gì về tội danh và mức hình phạt, nhưng đề nghị cho bị cáo K được hưởng án treo là không có cơ sở vì bị cáo cùng 1 thời gian phạm 2 tội. Do vậy không chấp nhận yêu cầu của Người bào chữa.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 345; điểm a khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận 1 phần kháng cáo của các bị cáo Trương Trung K, Dương Phi L và Trần Hoài L1.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Trần Hoài L1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Trần Hoài L1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Linh tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo L1 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 17/6/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 55 LHS; Khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố bị cáo Dương Phi L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Dương Phi L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 (Ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 17/6/2024.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS; Khoản 1 Điều 178, điểm b, s, t, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55 BLHS; Khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố bị cáo Trương Trung K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Trương Trung K 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; Quy đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 ngày tù tương ứng 02 (Hai) tháng tù. Buộc bị cáo K phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến ngày 22/3/2024.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Dương Phi L, Trương Trung K, Trần Hoài L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND TX. P; - VKSND TX. P; - Công an tỉnh P; - CQ.THAHS; CC.THADS TX. P; - Bị cáo, người TGTT khác; - Lưu HS; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 20/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 22/01/2023, tại quán Karaoke Roma thuộc khu 8, xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa bị cáo Nguyễn Anh Tuấn và bị cáo Trần Đức Cường; bị cáo Nguyễn Anh Tuấn và Trần Đức Cường đã lôi kéo, tụ tập nhiều đối tượng gồm: Phan Trương Chi, Trần Hoài Linh, Hoàng Tiến Dũng, Lê Xuân Sáng, Trương Trung Kiên, Dương Phi Long, Hoàng Trọng Lộc, Nguyễn Minh Quang, Đặng Thanh Tùng, Trần Văn Vinh, Nguyễn Văn Tùng, Nguyễn Đan Trường, Trần Tuấn Dũng, Hoàng Công Linh, Trần Quốc Mạnh, Bùi Trung Kết, Bùi Thái Dương và Trần Huy Hoàng đã thực hiện hành vi hò hét, chửi bới, mang theo hung khí gậy gỗ, ống tuýp kim loại, dao dài, dao quắm, gạch, cuốc xẻng cùng phương tiện ô tô, xe máy dồn đuổi, đánh nhau, đập phá tài sản có giá trị lớn, trên địa bàn xã Hà Lộc và xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ; tại các cửa hàng, quán kinh doanh ở nhiều khu vực khác nhau, trên tuyến đường quốc lộ và các tuyến đường huyết mạch của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ dẫn vào Khu công nghiệp có nhiều Công ty đang đầu tư kinh doanh, có lưu lượng phương tiện tham gia giao thông lớn, là nơi công cộng, hai bên đường có nhiều hộ dân sinh sống, hành vi của các đối tượng diễn ra trong khoảng thời gian dài, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. [2.2] Đối với các bị cáo Trương Trung Kiên, Dương Phi Long, Nguyễn Văn Tùng, Nguyễn Minh Quang và Nguyễn Đan Trường trong quá trình gây rối trật tự công cộng còn thực hiện hành vi đập phá xe ô tô BKS 19A-535.09 gây thiệt hại 28.850.000 đồng đã cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.
