Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-4-2025

V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 27/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Minh T - sinh năm 1991 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã M, huyện Ứ, TP .

*Bị đơn: Anh Vũ Duy T1 – sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã M, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa chị Phạm Thị Minh T là nguyên đơn trình bày: Trước khi quen anh Vũ Duy T1, chị đã từng ly hôn và nuôi 01 con. Chị và anh T1 qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M năm 2018. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng không có con nguyên nhân do chị, cả hai cố gắng chay chữa thuốc thang nhưng không có con. Ngoài nguyên nhân do tốn kém kinh tế chay chữa, không có con nên vợ chồng liên tục xích mích. Hai vợ chồng đã sống ly thân một thời gian. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị cương quyết xin ly hôn anh T1. Về con chung: chưa có nên chị không đề nghị Toà giải quyết. Về tài sản và công nợ chung: chị không đề nghị Toà giải quyết

Tại bản tự khai và buổi làm việc tại Toà anh Vũ Duy T1 trình bày: Anh và chị Phạm Thị Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M năm 2018. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng bình thường không hề xảy ra cãi nhau đánh nhau, anh không phân biệt con riêng; theo anh nguyên nhân mâu thuẫn là do anh đi làm ăn xa và do chị T nghe người khác; anh muốn chị T suy nghĩ lại để không ảnh hưởng cuộc sống hôn nhân gia đình cũng như ảnh hưởng danh dự, uy tín của bố mẹ hai bên. Về con chung: chưa có. Về tài sản, công nợ chung anh không đề nghị Toà giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Phạm Thị Minh T được ly hôn anh Vũ Duy T1. Về con chung: chưa có. Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Chị Phạm Thị Minh T có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho anh được ly hôn anh Vũ Duy T1 và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Vũ Duy T1 có đăng ký nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện Ứ, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 28/3/2025 nhưng vắng mặt của anh T1 nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai anh T1 vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Minh T và anh Vũ Duy T1 đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã M, huyện Ứ, TP . ngày 29/10/2018 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân một thời gian. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị T và anh T1 mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân một thời gian. Nay chị T có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Xét thấy: mặc dù anh T1 có quan điểm mong muốn chị T suy nghĩ lại để vợ chông nuôi dạy các con (anh T1 và chị T mỗi người có 01 con riêng) và để cho bố mẹ hai bên vui vẻ. Xong Toà báo gọi anh T1 đến hoà giải, tham gia phiên toà thì anh T1 không đến; bản thân cả hai anh chị vẫn sống ly thân, không có biện pháp nào cải thiện cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, cuộc sống hôn nhân của chị T và anh T1 mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Vũ Duy T1 đều xác nhận chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Vũ Duy T1 không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Minh T phải nộp án phí ly hôn. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Minh T được ly hôn anh Vũ Duy T1.
  2. Về con chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Vũ Duy T1 đều xác nhận chưa có con chung nên không đề nghị Toà giải quyết.
  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Phạm Thị Minh T và anh Vũ Duy T1 đều không đề nghị Toà giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị Minh T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012145 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP ..
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Chi cục THADS Ứng Hoà;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Bích Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger