Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02/4/2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Ngọc Quế;
  2. Ông Lưu Văn Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh – là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 396/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phan Văn L, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
  • - Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1990; nơi trú trú: Tổ A, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Văn L trình bày và yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị T tự tìm hiểu quen biết, tự nguyện chung sống nhau, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (theo giấy chứng nhận kết hôn số 111/2012, quyển số 01, ngày 13/8/2012 do UBND xã P, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho Phan Văn L và Trần Thị T). Cuộc sống của vợ chồng kể từ khi kết hôn đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng không thể hàn gắn chung sống với nhau. Nay anh L xin ly hôn với chị T.

- Về con chung: Anh L và chị T có 03 (ba) con chung tên Phan Nhật T1, sinh ngày 22/5/2013; Phan Ngọc Thùy T2, sinh ngày 10/6/2017 và Phan Tuấn K, sinh ngày 08/02/2022. Hiện cháu T1 và cháu T2 đang sống với anh L, cháu K đang sống với chị T. Khi ly hôn anh L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T2, không yêu cầu chị T cấp dưỡng; nhường quyền nuôi dưỡng cháu K cho chị T và không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho chị T nhưng vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa án và không cung cấp văn bản ý kiến phản hồi cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).

- Ngày 12/12/2024, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu có đến nơi cư trú chị T để lấy lời khai nhưng không thực hiện được, lý do chị T không có mặt tại địa phương; biên bản xác minh ngày 12/12/2024 tại Công an xã P xác nhận chị Trần Thị T có nơi cư trú tại ấp P, xã P, thị xã T; qua biên bản xác minh của Tòa án tại ấp P, xã P, thị xã T cho biết, chị Trần Thị T có nơi cư trú theo địa chỉ như đã nêu trên, hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì, mâu thuẫn giữa anh L với chị T xảy ra Ban ấp không biết do không trình báo. Được biết, anh L và chị T có 03 con chung, 02 cháu T1 và T2 đang sống chung với anh L; cháu K đang sống với chị T.

- Tại các biên bản ghi nhận ý kiến ngày 26/12/2024, ngày 06/01/2025 của Tòa án đối với các cháu Phan Nhật T1, sinh ngày 22/5/2013 và Phan Ngọc Thùy T2, sinh ngày 10/6/2017 (có sự chứng kiến anh Phan Văn L). Các cháu Phan Nhật T1 và Phan Ngọc Thùy T2 có trình bày nguyện vọng sống chung với cha là ông Phan Văn L khi cha, mẹ cháu ly hôn.

Tại phiên tòa, chị T vắng mặt; anh L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với chị T.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:

Về việc tuân thủ pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn chị Trần Thị T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn L được ly hôn với chị Trần Thị T.
  • - Về con chung: Anh L được tiếp tục nuôi các cháu Phan Nhật T1, sinh ngày 22/5/2013 và Phan Ngọc Thùy T2, sinh ngày 10/6/2017. Chị Trần Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phan Tuấn K, sinh ngày 08/02/2022, không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Anh L trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Anh Phan Văn L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phan Văn L khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị T có địa chỉ cư trú tại: Tổ A, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Trần Thị T đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã T, tỉnh An Giang theo quy định pháp luật. Hôn nhân giữa anh L và chị T là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Anh Lập khai: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng không thể hàn gắn chung sống với nhau. Nay, anh L nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn sống chung với nhau được và xin ly hôn với chị T.

Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh L và chị T hàn gắn tình cảm, nhưng chị T vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tình trạng vợ chồng anh L và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì không thể xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho anh L ly hôn với chị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về nuôi con chung: Anh L và chị T có 03 (ba) con chung tên Phan Nhật T1, sinh ngày 22/5/2013; Phan Ngọc Thùy T2, sinh ngày 10/6/2017 và Phan Tuấn K, sinh ngày 08/02/2022. Hiện cháu T1 và cháu T2 đang sống với anh L, cháu K đang sống với chị T.

Để đảm bảo môi trường sống của các cháu T1, T2 và K không bị xáo trộn và quyền lợi mọi mặt của của các con, anh L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy các con chung Phan Nhật T1, sinh ngày 22/5/2013; Phan Ngọc Thùy T2, sinh ngày 10/6/2017; nhường quyền nuôi con cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phan Tuấn K, sinh ngày 08/02/2022. Không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận.

[3] Về tài sản và nợ chung: Anh Phan Văn L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này giữa anh L và chị T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

[4] Về án phí: Anh Phan Văn L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn L được ly hôn với chị Trần Thị T.
  2. Về nuôi con chung: Anh Phan Văn L được tiếp tục nuôi dạy các con chung Phan Nhật T1, sinh ngày 22/5/2013 và Phan Ngọc Thùy T2, sinh ngày 10/6/2017 cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động; chị Trần Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phan Tuấn K, sinh ngày 08/02/2022 cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động. Không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Anh Phan Văn L và chị Trần Thị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về án phí: Anh Phan Văn L chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008765 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Anh Phan Văn L đã nộp đủ án phí. Chị Trần Thị T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Anh Phan Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND thị xã Tân Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Tân Châu;
  • - UBND xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án số 20 ngày 02/4/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger