|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 02 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Tâm;
2. Ông Hồ Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1998 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi thường trú: Xóm T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện tại: Thôn A, xã A, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị. Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 và bà Trần Thị D, sinh năm 1975; có vợ là chị Bàn Thị H1 (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2017 và con nhỏ sinh năm 2019; gia đình có 02 anh em; bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 cho đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn P, sinh năm: 2000; nơi cư trú: tổ dân phố T, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 22/12/2024, Nguyễn Tuấn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA SONIC gắn biển số 75H1-693.33 đi từ thôn A, xã A, huyện Đ khu vực Chợ thuộc thôn T, xã T, huyện Đ tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây Nguyễn Tuấn L gặp và hỏi mua 05 viên ma túy từ một người đàn ông (không xác định được lai lịch) với giá 300.000 đồng. Khi Nguyễn Tuấn L cầm số ma túy nói trên và điều khiển xe mô tô đi tìm địa điểm sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ tang vật.
Tại bản kết luận giám định số: 79/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
Mẫu 04 viên nén màu hồng (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu NS42070076) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,38g.
Mẫu 01 viên nén màu hồng (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu NS42070075) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,09g.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Cáo trạng số: 18/CT-VKSĐKR ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn L từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định và đồ vật không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A: Là điện thoại của bị cáo Nguyễn Tuấn L không sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe SONIC gắn biển kiếm soát 75H1-693.33 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe gắn máy số 75001718 do Công an huyện P cấp ngày 05/03/2021 của chủ sở hữu anh Nguyễn P, anh P không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 22/12/2024 tại khu vực Chợ thuộc thôn T, xã T, huyện Đ; Nguyễn Tuấn L có hành vi tàng trữ 05 viên ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,47gam thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn L khai nhận 05 viên ma túy bị cáo mua của một người đàn ông (không xác định được lai lịch) để sử dụng cá nhân. Lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được, khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn L cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về chất ma tuý của Nhà nước. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo, cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Nên áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn mới cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo hiện đang bị tạm giam, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
[5] Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định và đồ vật không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A: Là điện thoại của bị cáo Nguyễn Tuấn L không sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe SONIC gắn biển kiểm soát 75H1-693.33 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe gắn máy số 75001718 do Công an huyện P cấp ngày 05/03/2021 của chủ sở hữu anh Nguyễn P, anh P không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
[6] Vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Tuấn L, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không có kết quả, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn L: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 23/12/2024).
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Chất bột màu hồng có khối lượng 0,4106g là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) túi niêm phong, mã số MT79/CA ĐAKRÔNG, bên ngoài có chữ ký những người tham gia niêm phong và hình dấu phòng K Công an tỉnh Q; 04 (bốn) mảnh giấy màu trắng không rõ hình dạng kích thước (Mở niêm phong 01 túi niêm phong có mã số NS3 2035083); 01 (một) mảnh nylon màu trắng không rõ hình dạng kích thước (Mở niêm phong 01 túi niêm phong có mã số NS3 2035083); 01 (một) mảnh nylon màu vàng không rõ hình dạng kích thước (Mở niêm phong 01 túi niêm phong có mã số NS4 2070051).
Trả lại cho Nguyễn Tuấn L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 9A, màu xanh, mặt sau có dòng chữ Redmi màu trắng, số IMEI 1: 868754056123733, số IMEI 2: 868754056123741 (Mở niêm phong 01 túi niêm phong, mã số PS3 2035058).
Trả lại cho anh Nguyễn P: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe SONIC, màu sơn đen đỏ trắng, gắn biển kiếm soát 75H1-693.33, số khung MH1KB1118LK276364; số máy KB11E1276036, dung tích xi lanh 149cm³, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe gắn máy số 75001718 do Công an huyện P cấp ngày 05/03/2021.
(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông đang bảo quản, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Thành |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
