|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 3 - 2025
V/v “Ly hôn và nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Duy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Bà Phạm Thị Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quí – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 647/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2025/QĐST – HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tiết H, sinh ngày 19/9/1981 (có mặt)
Địa chỉ: ấp BC, xã ĐT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre
*Bị đơn: Anh Hồ Văn H1, sinh ngày 01/01/1975
Địa chỉ: ấp BC, xã ĐT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/12/2024 và trong quá trình tố tụng, chị Phạm Thị Tiết H trình bày:
Chị và anh Hồ Văn H1 tự nguyện cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện BĐ vào ngày 05/3/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H1 ham mê cờ bạc, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh H1 không thay đổi, nên cả hai đã ly thân từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay. Nay, chị nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Thị Ngọc H2, sinh ngày 25/06/2007. Nay, chị H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
* Anh Hồ Văn H1 đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Tiết H và không đến tham dự phiên tòa.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ:
- Về thủ tục: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt không có lý do nên chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được đưa ra xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử (HĐXX) thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử.
- Về nội dung đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh H1. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị H được nuôi con chung và ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:
- [1] Về tố tụng: Bị đơn anh Hồ Văn H1 đã được triệu tập đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- [2] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Tiết H và anh Hồ Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT, huyện BĐ theo quy định pháp luật vào ngày 05/3/2007, do đó, hôn nhân của chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị H cho rằng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn và chị yêu cầu được ly hôn với anh H1, HĐXX xét thấy: Từ ngày Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đến nay, anh H1 đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh H1 không có động thái hay thiện chí thể hiện muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, cả hai đã không sống chung từ tháng 12 năm 2024 và chị H vẫn cương quyết ly hôn. Vì vậy, mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ly hôn là biện pháp tốt nhất để trả tự do cho cả hai. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
- [3] Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Thị Ngọc H2, sinh ngày 25/06/2007. Con chung hiện đang sống cùng chị H, cháu H2 cũng có nguyện vọng sống chung với chị H, do đó để đảm bảo điều kiện sống và phát triển bình thường của cháu H2, HĐXX chấp nhận chị H được nuôi con chung và ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- [4] Về tài sản chung: Không có
- [5] Về nợ chung: Không có.
- [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ phù hợp với các nhận định nêu trên nên được HĐXX chấp nhận.
- [7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Phạm Thị Tiết H phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận cho chị Phạm Thị Tiết H ly hôn với anh Hồ Văn H1. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Chị Phạm Thị Tiết H được quyền nuôi con chung tên Hồ Thị Ngọc H2, sinh ngày 25/06/2007. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Hồ Văn H1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Không có
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Tiết H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào theo biên lai thu tiền số 0008061 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ.
- Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Quốc Duy |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho chị Phạm Thị Tiết H ly hôn với anh Hồ Văn H1. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
