Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN KHÁNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 20/2025/HSST

Ngày 25/3/2025


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH - TỈNH NINH BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hà
    Bà Nguyễn Thị Phương Lan
  • -Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Hạnh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Khánh - tỉnh Ninh Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Đình, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025 đối với bị cáo:

Hồ Trường A, sinh ngày 18/02/1993 tại tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: số D, ấp A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Hồ Duy H và bà Lê Thị V. Vợ Hồ Thị N (đã ly hôn); Con có 01 con sinh năm 2018;

Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 28/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

Bị hại:

  • Anh Đặng Văn B, sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  • Anh Lê Xuân B1, sinh năm 1988; nơi cư trú: đội C, thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  • Anh Lê Ngọc V1, sinh năm 1978; nơi cư trú: xóm B, N, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Anh Hồ Văn H1, sinh năm 1994; nơi cư trú: xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Hồ Duy H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2020, Hồ Trường A nhặt được 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Hồ Văn H1, sinh ngày 03/12/1994, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. A đã dùng chứng minh thư nhân dân trên để đăng ký mở 01 tài khoản số 1410119897006 tại Ngân hàng TMCP Q và 01 tài khoản số 190342999922017 tại ngân hàng N2 đều mang tên Hồ Văn H1. Đầu năm 2024, khi về sống tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, mặc dù bản thân không kinh doanh, buôn bán gỗ nu, nhưng Hồ Trường A đã đăng ký, tạo lập khoản Facebook “Gỗ N1 ngọc Am” và tài khoản Z “Gỗ Nu Ngọc A1” bằng số điện thoại 0974.348.xxx với mục đích sử dụng các tài khoản này lừa bán gỗ nu để chiếm đoạt tiền của người khác. An tải hình ảnh các sản phẩm được làm bằng gỗ nu từ mạng internet rồi đăng bài rao bán các sản phẩm này trên tài khoản Facebook, tài khoản Zalo, nếu có người hỏi mua và tin tưởng chuyển tiền, thì A sẽ chiếm đoạt. Với thủ đoạn trên, từ ngày 27/4/2024 đến ngày 25/5/2024, A đã 03 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền 125.000.000 đồng của 03 người, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 27/4/2024, anh Đặng Văn B, sinh ngày 20/8/1988, trú tại tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái thấy tài khoản Facebook “Gỗ Nu Ngọc A1” và tài khoản Z “Gỗ Nu Ngọc A1” đăng bài bán các sản phẩm làm bằng gỗ nu nên anh B sử dụng tài khoản Zalo “Đặng Văn B” kết bạn, liên lạc với tài khoản Zalo “Gỗ Nu Ngọc A1” của Hồ Trường A hỏi mua. A nói dối mình có đầy đủ các mặt hàng đồ gỗ nu và thỏa thuận bán cho anh B 01 mặt bàn nu Xá xị với giá 30.000.000 đồng. A yêu cầu anh B chuyển khoản đặt cọc 3.000.000 đồng vào tài khoản 1410119897006 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP Q thì sẽ gửi hàng về địa chỉ nhà của anh B. Anh B tưởng thật nên ngày 27/4/2024 đã sử dụng tài khoản 109874932841 của mình mở tại Ngân hàng TMCP C chuyển số tiền 3.000.000đồng đến tài khoản trên theo yêu cầu của A. Sau khi nhận được tiền, A hủy kết bạn Z, chặn mọi liên lạc với anh B. Số tiền 3.000.000 đồng chiếm đoạt được của anh B, A đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ hai: Ngày 13/5/2024, anh Lê Xuân B1, sinh ngày 07/11/1988, trú tại đội 3, thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội thấy tài khoản Facebook “Gỗ Nu Ngọc A1” và tài khoản Z “Gỗ Nu Ngọc A1” đăng bài bán các sản phẩm làm bằng gỗ nu nên đã sử dụng tài khoản Zalo “Lê Xuân B1” kết bạn, nhắn tin đến tài khoản Zalo “Gỗ Nu Ngọc A1” của Hồ Trường A hỏi mua. A nói dối mình đang có 01 mặt bàn gỗ nu Ngọc A1 và thỏa thuận bán cho anh B1 với giá 22.000.000 đồng, anh B1 đồng ý mua. A yêu cầu anh B1 chuyển đủ 22.000.000 đồng đến tài khoản số 1410119897006 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP Q thì A sẽ gửi hàng cho anh B1. Do tin tưởng nên ngày 13/5/2024, anh B1 đã sử dụng tài khoản 4520288855 của mình mở tại Ngân hàng TMCP Đ chuyển 22.000.000 đồng đến tài khoản trên theo yêu cầu của A. Số tiền 22.000.000đồng chiếm đoạt được của anh B1, A đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Khi không thấy A gửi hàng cho mình như đã thỏa thuận, anh B1 liên lạc với A thì A nói anh B1 đi đến thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để nhận hàng trực tiếp. Khi anh B1 đi đến nơi, liên lạc lại với A thì A không trả lời và chặn mọi liên lạc với anh B1.

Lần thứ ba: Ngày 23/5/2024, anh Lê Ngọc V1, sinh năm 1978, trú tại xóm B, N, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thấy tài khoản Facebook “Gỗ N1 ngọc Am” và tài khoản Z “Gỗ Nu Ngọc A1” của Hồ Trường A đăng bài bán các sản phẩm làm bằng gỗ nu nên đã sử dụng tài khoản Facebook “Viet Le” và tài khoản Zalo “Lê Ngọc V1” kết bạn, liên lạc với A hỏi mua. Hồ Trường A nói dối bản thân có nhận làm, bán các sản phẩm làm bằng gỗ nu theo yêu cầu của khách. Anh V1 tưởng thật đã đặt mua 01 bộ bàn trà bằng gỗ nu với giá là 190.000.000 đồng và 01 tượng di lặc gỗ nu với giá 45.000.000 đồng. A yêu cầu anh V1 phải chuyển đặt cọc 100.000.000 đồng đến tài khoản số 1410119897006 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP Q thì A sẽ gửi hàng cho anh V1. Trong các ngày 24 và 25/5/2024, anh V1 sử dụng tài khoản 5678789789789 của mình mở tại Ngân hàng TMCP Q chuyển 03 lần (lần 1 ngày 24/5/2024 chuyển 12.000.000đồng; trong ngày 25/5/2024 chuyển 02 lần; lần 1 số tiền 38.000.000đồng; lần 2 là 50.000.000đồng), tổng cộng là 100.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng trên theo yêu cầu của A. Sau khi nhận được tiền, A không giao hàng, chặn liên lạc để chiếm đoạt số tiền của anh V1. Sau đó, A chuyển 100.000.000 đồng đã chiếm đoạt được của anh V1 đến tài khoản 190342999922017 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP N2 rồi rút ra để chi tiêu cá nhân. Đến ngày 02/6/2024, Hồ Trường A nhắn tin cho anh V1 nói dối hàng đang bị Kiểm lâm bắt nên không thể chuyển hàng cho anh V1 được và yêu cầu anh V1 chuyển tiếp thêm 100.000.000 đồng nữa để lấy hàng ra nhưng anh V1 nghi ngờ nên không đồng ý chuyển tiền. Sau đó, Hồ Trường A đã chặn mọi liên lạc với anh V1. Lúc này, anh V1 biết mình đã bị A lừa đảo chiếm đoạt tiền nên trình báo cơ quan Công an. Ngày 19/12/2024, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên A ra đầu thú, tự nguyện giao nộp 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Hồ Trường A, 01 thẻ ATM ngân hàng T số thẻ 9704078866370451 (số tài khoản 190342999922017), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 9, số IMEI 1 359447099905010, số IMEI 2 359448099905018, lắp 02 sim thuê bao số 0974348602, 0984999206 và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 1410119897006 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP Q và tài khoản số 190342999922017 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP N2. Đối với thẻ ATM của tài khoản 1410119897006 tại Ngân hàng TMCP Q, Hồ Trường A khai đã đánh mất, cơ quan điều tra không thu giữ được.

Kết quả điều tra xác định, anh Hồ Văn H1, sinh ngày 03/12/1994, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An đã đánh mất chứng minh thư nhân dân và không biết việc Hồ Trường A sử dụng chứng minh thư nhân dân của mình để mở, sử dụng tài khoản ngân hàng lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, cơ quan điều tra không xử lý đối với anh H1.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại cho Hồ Trường A 01 Căn cước công dân đã thu giữ (do ông Hồ Duy H là cha của A được ủy quyền nhận thay). Đối với các vật chứng: 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP N2, số thẻ 9704078866370451 (số tài khoản 190342999922017); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy N3 9, số IMEI 1 359447099905010, số IMEI 2 359448099905018, lắp 02 sim thuê bao số 0974348602, 0984999206 chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Khánh quản lý để đảm bảo việc xét xử và thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Hồ Trường A đã ủy quyền cho ông Hồ Duy H là bố đẻ của A bồi thường cho anh Đặng Văn B 3.000.000 đồng, cho anh Lê Xuân B1 22.000.000 đồng, cho anh Lê Ngọc V1 100.000.000 đồng. Anh B, anh B1, anh V1 và anh Hồ Văn H1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 26/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh đã truy tố Hồ Trường A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

+Tuyên bố bị cáo Hồ Trường A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Trường A từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/12/2024.

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 9, số IMEI 1 359447099905010, số IMEI 2 359448099905018; Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại di động thuê bao số 0974348602, 0984999206; 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP N2, số thẻ 9704078866370451 (số tài khoản 190342999922017); Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tịch thu nộp ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền có trong tài khoản số 1410119897006 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP Q (số dư trong tài khoản là 715 đồng) và tài khoản số 190342999922017 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP N2 (số dư trong tài khoản là 921 đồng) sau đó yêu cầu các ngân hàng thực hiện việc đóng tài khoản

+ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo Hồ Trường A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi phạm tội:

Hồ Trường A nhặt được chứng minh thư nhân dân mang tên Hồ Văn H1 và dùng chứng minh thư nhân dân này để đăng ký mở 02 tài khoản ngân hàng gồm tài khoản tại Ngân hàng Q (M) số 1410119897006 và tài khoản số 190342999922017 tại Ngân hàng TMCP N2 (T) đều mang tên Hồ Văn H1, sau đó dùng số điện thoại của mình 0974.348.xxx để lập tài khoản Facebook “Gỗ Nu Ngọc A1” và tài khoản zalo “Gỗ Nu Ngọc A1”; mặc dù bị cáo không có gỗ nu để bán, tuy nhiên bị cáo Hồ Trường A đã đăng tải các hình ảnh các sản phẩm được làm bằng gỗ nu từ mạng internet rồi đăng bài rao bán các sản phẩm này trên tài khoản Facebook và zalo làm cho mọi người tin tưởng là thật hỏi nên đã liên hệ với bị cáo để mua sản phẩm Gỗ nu và đã chuyển tiền vào tài khoản mà bị cáo đã lập nói trên. Sau khi nhận được số tiền chuyển khoản từ người mua, bị cáo đã huỷ kết bạn, chặn số điện thoại và mọi liên lạc với người mua để chiếm đoạt số tiền. Từ ngày 27/4/2024 đến ngày 25/5/2024, bị cáo Hồ Trường A đã 03 lần dùng thủ đoạn gian dối, lừa bán các sản phẩm được làm bằng gỗ nu và chiếm đoạt tài sản cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 27/4/2024 lừa chiếm đoạt của anh Đặng Văn B, sinh ngày 20/8/1988, trú tại tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái số tiền đặt cọc 3.000.000 đồng khi anh B đặt mua 01 mặt bàn nu Xá xị gỗ nu với giá 30.000.000 đồng.

Lần thứ hai: Ngày 13/5/2024, lừa chiếm đoạt của anh Lê Xuân B1, sinh ngày 07/11/1988, trú tại đội 3, thôn P, xã S, huyện Q, thành phố Hà Nội số tiền 22.000.000đồng khi anh B1 thoả thuận đặt mua 01 mặt bàn gỗ nu Ngọc A1 giá 22.000.000 đồng.

Lần thứ ba: Ngày 23/5/2024, lừa chiếm đoạt của anh Lê Ngọc V1, sinh năm 1978, trú tại xóm B, N, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình số tiền 100.000.000đồng khi anh V1 đặt mua 01 bộ bàn trà bằng gỗ nu với giá là 190.000.000 đồng và 01 tượng di lặc gỗ nu với giá 45.000.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt trong 03 lần là 125.000.000đồng.

Số tiền chiếm đoạt bị cáo đều yêu cầu người bị hại chuyển tiền vào tài khoản MB mang tên Hồ Văn H1 sau đó bị cáo tự chuyển tiền từ tài khoản MB này sang tài khoản T mang tên Hồ Văn H1 mà bị cáo đã lập để tiêu sài cá nhân.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, nội dung trao đổi trên Facebook và zalo điện thoại di động, bản sao kê chi tiết tài khoản ngân hàng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hồ Trường A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh đã truy tố là đúng người đúng pháp luật.

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

c. Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000đồng.

”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an toàn cho xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 03 lần nên thuộc tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: sau khi nhận được đơn tố giác của anh Lê Ngọc V1, bị cáo đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình với anh V1; bị cáo tự nguyện giao nộp điện thoại và các tài khoản ngân hàng có liên quan đồng thời khai ra hành vi phạm tội của mình trong hai lần vào ngày 27/4/2024 đối với anh Đặng Văn B và ngày 13/5/2024 đối với anh Lê Xuân B1 thể hiện sự tự thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã nói với gia đình để gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại là tự nguyện bồi thường thiệt hại; những người bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về gia đình bị cáo: mẹ đẻ bị cáo có đóng góp tích cực trong các hoạt động phong trào của Hội phụ nữ ấp, nhiều năm được Chính quyền địa phương và Hội phụ nữ tặng giấy khen; bố đẻ bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, thành phố Hồ Chí Minh tặng Giấy khen do có nhiều đóng góp tích cực trong phong trào hiến máu tình nguyện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cách ly bị cáo với xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội như vậy cũng đã thể hiện tính răn đe, giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung.

[2].Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo và các bị hại đã giải quyết bồi thường thiệt hại với nhau xong cụ thể bị cáo đã trả cho anh Đặng Văn B 3.000.000 đồng, cho anh Lê Xuân B1 22.000.000 đồng và anh Lê Ngọc V1 100.000.000 đồng. Anh B, anh B1, anh V1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 9, số IMEI 1 359447099905010, số IMEI 2 359448099905018, lắp 02 sim thuê bao số 0974348602, 0984999206 thu giữ của bị cáo là phương tiện phạm tội có giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; đối với các sim điện thoại không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP N2, số thẻ 9704078866370451 (số tài khoản 190342999922017) là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với các tài khoản ngân hàng mà bị cáo đăng ký gồm tài khoản số 1410119897006 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP Q (số dư là 715 đồng) và tài khoản số 190342999922017 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP N2 (số dư là 921 đồng). Hiện nay Công an huyện Y đang có lệnh phong toả đối với các tài khoản ngân hàng nói trên. Xét thấy việc đăng ký tài khoản của bị cáo không đúng thủ tục và trái pháp luật, số tiền trong tài khoản là tiền do phạm tội mà có nên cần huỷ bỏ lệnh phong toả tài khoản để tịch thu sung quỹ Nhà nước các số tiền còn lại trong tài khoản nói trên và yêu cầu các ngân hàng thực hiện việc đóng 02 tài khoản này theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4]. Các vấn đề khác:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Anh Hồ Văn H1 đã đánh mất chứng minh thư nhân dân và không biết việc Hồ Trường A sử dụng chứng minh thư nhân dân của mình để mở, sử dụng tài khoản ngân hàng lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, cơ quan điều tra không xử lý đối với anh H1.

Án phí: Bị cáo bị xử có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Trường A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt Hồ Trường A 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt tạm giữ 19/12/2024.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 9, số IMEI 1 359447099905010, số IMEI 2 359448099905018;
  • - Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại di động thuê bao số 0974348602, 0984999206; 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP N2, số thẻ 9704078866370451 (số tài khoản 190342999922017).
  • (Vật chứng có đặc điểm số lượng theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Khánh).
  • - Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tịch thu nộp ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền 715 đồng có trong tài khoản số 1410119897006 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP Q số tiền và số dư trong tài khoản số 190342999922017 mang tên Hồ Văn H1 tại Ngân hàng TMCP N2 là 921 đồng, sau đó yêu cầu các ngân hàng thực hiện việc đóng tài khoản.

3. Về án phí HSST: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Bị cáo Hồ Trường A phải nộp 200.000đồng.(Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND huyện Yên Khánh
  • - Công an tỉnh Ninh Bình
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Ninh Bình
  • - Chi cục THA. DS huyện Yên Khánh
  • - Bị cáo
  • - Người bị hại,
  • - Người QLNVLQ đến vụ án
  • - Lưu hồ sơ
  • - Lưu VP
  • - (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH - TỈNH NINH BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 18 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger