TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 25-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Xuân Hải
- Ông Nguyễn Văn Chuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở, TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh năm 1988
ĐKHKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Nguyễn Văn D (đã chết); con bà: Trịnh Thị R, sinh năm 1960; Vợ: Vũ Thị P1, sinh năm 1987; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh N. (Có mặt)
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 - Vắng mặt
- Ông Phạm Quốc C1, sinh năm 1975 - Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 20/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên P mang theo 200.000 đồng đi bộ ra đường ĐT487 ở xã N, huyện N rồi xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đến khu vực ngã ba N thuộc xã L, huyện T mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Pháp quan sát thấy một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình ở lề đường cạnh bờ mương đầu đường TL488B, nghĩ người này bán ma túy Pháp đến gần hỏi và mua được 01 (một) gói Heroine với giá 200.000 đồng rồi cầm ở tay trái quay về tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, khi Pháp đang đi bộ trên trục đường dong xóm B, xã T, huyện T thì bị tổ công tác của Công an xã T phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Nguyễn Văn P tự giao nộp cho lực lượng Công an 01 (một) gói giấy bạc nhỏ màu tím đang cầm ở tay trái, mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. P khai nhận đây là gói Heroine của Pháp, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong tại chỗ tang vật vừa thu giữ của Pháp theo quy định pháp luật, ký hiệu M. Ngoài ra không thu giữ của Pháp đồ vật, tài sản nào khác. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn P không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Kết luận giám định số: 116/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy bạc màu tím, được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Heroine (H), Khối lượng mẫu M: 0,154 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
2
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 35 phút ngày 20 tháng 12 năm 2024, Nguyễn Văn P có hành vi cất giấu trái phép 0,154 gam Heroin trong người mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã T phát hiện bắt quả tang tại khu vực đường D, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực nhận thức điều khiển hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, nên
3
HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Trên cơ sở xem xét cân nhắc giữa các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định hướng dẫn thi hành BLHS, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2020 nên cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn để nâng cao biện pháp giáo dục, răn đe bị cáo để lao động, cải tạo thành người có ích cho xã hội, đáp ứng công cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma tuý mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Vì vậy, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Pháp: Theo P khai người này khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m70, mặc quần áo nàu đen, đi giày thể thao màu xanh. Đây là lần đầu tiên P gặp, không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan điều tra đã tiền hành xác minh nhưng không xác định được là ai để làm làm việc.
Đối với người đàn ông cho P đi nhờ xe đến đến khu vực ngã ba N, xã L, huyện T. Theo P khai người này là người đi đường, P không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, người này cũng không biết mục đích của P đi mua ma tuý và sử dụng. Cơ không xác minh được là ai để làm việc.
Xét thấy Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn P 18 (mười tám) tháng tù
Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư mặt trước có ghi số 116/KL-KTHS của Phòng KTHS - Công an tỉnh N.
(Chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kê biên số 27/THA ngày 26/02/2025 giữa CQCSĐT Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
6
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P - Tàng trữ trái phép chất ma túy
