trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lợi
Bà Viên Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hiền, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 14/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 05/2025/HSST-QĐ ngày 18/3/2025 đối với bị cáo:

Phạm Sỹ H; Sinh ngày: 03/8/1995; tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Cấp ngày 12/8/2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Sỹ M; Con bà: Lê Thị L (đã chết); Vợ: Lê Thị H1; Có 02 con: Con lớn sinh năm 2019; con nhỏ sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 30/12/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Mai Xuân H2, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Anh Uông Việt Q, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
  5. Anh Viên Đình G, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi, trong khoảng thời gian từ ngày 08/6/2023 đến ngày 27/12/2024, Phạm Sỹ H sử dụng nguồn tiền của cá nhân cho một số người dân trên địa bàn huyện Q vay với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. Cụ thể:

1. H cho anh Mai Xuân H2 (SN 1997, ở thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) vay 02 lần, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Ngày 08/6/2023, H cho anh H2 vay số tiền 10.000.000 đồng, không ấn định ngày trả tiền gốc, với lãi suất 1.200.000đ/1 tháng (tương đương với lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày và 146%/1 năm). Khi cho vay, Hoàng cắt trước 1.200.000 đồng tiền lãi tháng đầu tiên và đưa cho anh H2 8.800.000 đồng; đồng thời H yêu cầu anh H2 để lại căn cước công dân của anh H2 cho Hoàng giữ, khi nào anh H2 trả hết nợ tiền lãi và gốc cho H thì H sẽ trả lại căn cước công dân, anh H2 đồng ý. Đến ngày 08/9/2024, anh H2 đã trả cho H 10.000.000 đồng tiền gốc và tổng 15 tháng lãi với tổng số tiền 18.000.000 đồng. Với số tiền vay 10.000.000 đồng trong thời gian 15 tháng, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự của khoản vay là 2.465.753 đồng, số tiền H đã thu lời bất chính là 15.534.247 đồng (Mười lăm triệu năm trăm ba mươi tư nghìn hai trăm bốn bảy đồng).

- Lần thứ hai: Ngày 08/6/2024, H cho anh H2 vay số tiền 10.000.000 đồng, không ấn định ngày trả tiền gốc, với lãi suất 1.200.000đ/1 tháng (tương đương với lãi suất 4.000đ/1 triệu/1 ngày và 146%/1 năm). Khi đưa tiền, Hoàng cắt trước 1.200.000 đồng tiền lãi tháng đầu tiên và đưa cho anh H2 8.800.000 đồng. Đến ngày 02/10/2024, anh H2 đã trả cho H 10.000.000 đồng tiền gốc và tổng 04 tháng lãi với tổng số tiền 4.800.000 đồng. Với số tiền vay 10.000.000 đồng trong thời gian 04 tháng, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự của khoản vay là 657.534 đồng, số tiền H đã thu lời bất chính là 4.142.466 đồng (Bốn triệu một trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng).

Tổng số tiền H sử dụng cho anh H2 vay trong 02 lần trên là 20.000.000đ, số tiền lãi H đã thu được là 22.800.000 đồng, trong đó mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự của 02 lần vay là 3.123.288 đồng; số tiền lãi H đã thu vượt quá quy định, nhằm thu lời bất chính là 19.676.712 đồng (Mười chín triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm mười hai đồng).

2. Ngày 26/06/2023, H cho anh Uông Việt Q (SN 1998, ở thôn A, xã Q, huyện Q) vay số tiền 10.000.000 đồng, không ấn định ngày trả gốc, với lãi suất 1.500.000đ/1 tháng (tương đương với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày và 182,5%/1 năm). Khi đưa tiền, Hoàng cắt trước 1.500.000 đồng tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho anh Q 8.500.000đ; đồng thời H yêu cầu anh Q viết giấy vay tiền, để lại căn cước công dân của anh Q cho Hoàng giữ, khi nào anh Q trả hết nợ tiền lãi và gốc cho H thì H sẽ hủy giấy vay tiền và trả lại căn cước công dân, anh Q đồng ý. Tính đến ngày 27/12/2024 (thời điểm phát hiện tội phạm), anh Q vay số tiền 10.000.000 đồng trong thời gian 18 tháng 01 ngày, số tiền lãi H nhằm thu theo thoả thuận là 27.050.000 đồng, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự của khoản vay là 2.964.384 đồng, số tiền H nhằm thu lời bất chính là 24.085.616 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Thực tế anh Q đã trả cho H tổng 17 tháng lãi với số tiền 25.500.000 đồng, còn nợ lại 01 tháng 01 ngày tiền lãi là 1.550.000đ và hiện chưa trả 10.000.000 đồng tiền gốc cho H. Với số tiền vay 10.000.000 đồng trong thời gian 17 tháng, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự của khoản vay là 2.794.521 đồng, số tiền H đã thu lời bất chính là 22.705.479 đồng.

3. Ngày 08/6/2024, H cho anh Viên Đình G (SN 2000, ở thôn A, xã Q, huyện Q) vay số tiền 10.000.000 đồng, không ấn định ngày trả tiền gốc, với lãi suất 1.500.000đ/1 tháng (tương đương với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày và 182,5%/1 năm). Khi đưa tiền, Hoàng cắt trước 1.500.000 đồng tiền lãi của tháng đầu tiên và đưa cho anh G 8.500.000 đồng; đồng thời H yêu cầu anh G viết giấy vay tiền, để lại 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của anh G cho Hoàng giữ, khi nào anh G trả hết nợ tiền lãi và gốc cho H thì H sẽ hủy giấy vay tiền, trả lại căn cước công dân và giấy phép lái xe, anh G đồng ý. Đến ngày 08/12/2024, anh G đã trả cho H 10.000.000 đồng tiền gốc và tổng 04 tháng lãi với số tiền 6.000.000 đồng. Với số tiền vay 10.000.000 đồng trong thời gian 04 tháng, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự của khoản vay là 657.534 đồng, số tiền H đã thu lời bất chính là 5.342.466 đồng.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 08/6/2023 đến ngày 27/12/2024, Phạm Sỹ H đã sử dụng tổng số tiền 40.000.000 đồng cho 03 người vay gồm: Mai Xuân H2, Uông Việt Q và Viên Đình G với lãi suất từ 4.000đ đến 5000đ/1 triệu/1 ngày, tương đương với mức lãi suất 146% đến 182,5%/năm. Số tiền lãi H nhằm thu của 03 người vay theo thỏa thuận là 55.850.000 đồng; mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với các khoản vay là: 6.745.205 đồng, số tiền H nhằm thu lời bất chính là: 49.104.795 đồng.

Thực tế H đã thu được số tiền lãi là: 54.300.000 đồng, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với các khoản vay là 6.575.342 đồng, số tiền H đã thu lời bất chính là 47.724.658 đồng.

Nhận thức hành vi cho vay lãi nặng của mình là vi phạm pháp luật, ngày 27/12/2024 Phạm Sỹ H đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Sỹ H (ở thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) thu giữ:

  • + 01 (Một) Căn cước công dân số [...] mang tên Mai Xuân H2 (SN 1997 ở thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa);
  • + 01 (Một) Căn cước công dân số [...] mang tên Uông Việt Q (SN 1998 ở thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa);
  • + 01 (Một) CCCD số [...] và 01 (Một) GPLX mô tô hạng A1, số C đều mang tên Viên Đình G (SN 2000 ở thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa).
  • + 02 (Hai) giấy vay tiền mang tên Uông Việt Q và Viên Đình G.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành thông báo bằng văn bản gửi đến Công an các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Q phối hợp rà soát, xác minh thông tin khách vay tiền của Phạm Sỹ H. Tuy nhiên cho đến nay, ngoài cho anh Mai Xuân H2, Uông Việt Q, Viên Đình G vay tiền với lãi suất cao như trên, Cơ quan điều tra chưa tiếp nhận thêm thông tin nào về khách vay tiền của Phạm Sỹ H.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.

Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSQX ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Phạm Sỹ H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  • - Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 201 BLHS; điểm i, s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2, 3 Điều 35, 36, 46, 47, 48 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ H từ 18 đến 22 tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày Cải tạo không giam giữ.
  • Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
  • - Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng.
  • * Về các biện pháp tư pháp:
  • + Tịch thu của Phạm Sỹ H số tiền 36.575.342 đồng (trong đó gồm: 30.000.000 đồng tiền gốc và 6.575.342 đồng tiền lãi theo quy định của BLDS) thu sung công quỹ Nhà nước;
  • + Buộc anh Uông Việt Q phải nộp lại số tiền 10.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước;
  • + Ghi nhận Phạm Sỹ H đã trả lại cho những người vay số tiền lãi đã thu vượt quá quy định, cụ thể: anh Mai Xuân H2: 19.676.712 đồng; anh Uông Việt Q: 22.705.479 đồng; anh Viên Đình G: 5.342.466 đồng.
  • * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, Hội đồng xét xử có thể công bố lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa để tranh tụng nên không ảnh hưởng đến hoạt động xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Lời khai của bị cáo thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khai nhận: Xuất phát từ động cơ tư lợi, trong khoảng thời gian từ 08/6/2023 đến ngày 27/12/2024, bị cáo đã có hành vi sử dụng số tiền 40.000.000đ của cá nhân cho 03 người vay gồm: Mai Xuân H2, Uông Việt Q và Viên Đình G, với lãi suất từ 4.000đ đến 5000đ/1 triệu/1 ngày, tương đương với mức lãi suất 146% đến 182,5%/năm, gấp từ 7,3 đến 9,13 lần so với mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, nhằm thu lời bất chính với tổng số tiền 49.104.795₫ (Bốn mươi chín triệu một trăm linh tư nghìn bảy trăm chín lăm đồng). Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, xác định: Tổng số tiền thu lời bất chính mà Phạm Sỹ H phải chịu trách nhiệm hình sự là 49.104.795 đồng (Bốn mươi chín triệu một trăm linh tư nghìn bảy trăm chín lăm đồng).

Bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo Phạm Sỹ H theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Sỹ H có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS.

[3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do muốn thu lời bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, ngoài ra còn ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Hành vi đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xét tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cho bị cáo Phạm Sỹ H được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức giáo dục và phòng ngừa chung.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo thuộc diện lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính, căn cứ khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Phạm Sỹ H 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) để răn đe đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền nợ gốc bao gồm: Anh Mai Xuân H2 đã trả cho Phạm Sỹ H 02 lần với tổng số tiền là 20.000.000 đồng; anh Viên Đình G trả cho H 10.000.000 đồng; anh Uông Việt Q đã vay 10.000.000 đồng chưa trả cho Phạm Sỹ H. Đây là tiền Phạm Sỹ H sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu của H tổng số tiền 30.000.000 đồng, tịch thu của Uông Việt Q số tiền 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 6.575.342 đồng là tiền lãi thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, tuy không bị tính xác định trách nhiệm hình sự nhưng là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu của Phạm Sỹ H số tiền 6.575.342 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền Phạm Sỹ H đã thu lãi của người vay vượt quá quy định của Bộ luật Dân sự, gồm: anh Mai Xuân H2 19.676.712 đồng, anh Uông Việt Q 22.705.479 đồng, anh Viên Đình G 5.342.466 đồng. Tại phiên toà, bị cáo xuất trình các tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo đã trả lại cho những người vay số tiền lãi thu vượt quá quy định, cụ thể: anh Mai Xuân H2: 19.676.712 đồng; anh Uông Việt Q: 22.705.479 đồng; anh Viên Đình G: 5.342.466 đồng nên ghi nhận việc bị cáo đã khắc phục tiền thu lời bất chính cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 CCCD mang tên Uông Việt Q; 01 CCCD mang tên Mai Xuân H2; 01 CCCD và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 đều mang tên Viên Đ. Đây là các giấy tờ tùy thân của anh Mai Xuân H2, Uông Việt Q, Viên Đ. Sau khi thu giữ để phục vụ công tác điều tra ngày 30/12/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các giấy tờ trên cho anh Q, H2, G là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 02 (Hai) giấy vay tiền của anh Uông Việt Q và Viên Đình G. Đây là tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Sỹ H nên lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Sỹ H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ H 15 (mười lăm tháng) tháng cải tạo không giam giữ; được trừ đi 03 ngày tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 30/12/2024) bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời điểm tính chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Phạm Sỹ H cho Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát; UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa là nơi bị cáo cư trú để giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Phạm Sỹ H số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 48 BLHS. Điều 5 Nghị quyết 01/2021 ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 BLHS.

Đối với số tiền gốc: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền 40.000.000đ là tiền Phạm Sỹ H sử dụng cho anh Mai Xuân H2, anh Viên Đình G và anh Uông Việt Q vay. Trong đó: Tịch thu của của H tổng số tiền 30.000.000 đồng tiền gốc người vay đã trả cho H; tịch thu của Uông Việt Q số tiền 10.000.000 đồng tiền gốc Uông Việt Q còn nợ H.

Đối với tiền lãi thu được tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền 6.575.342 đồng là tiền lãi mà Phạm Sỹ H thu được của những người vay (tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự).

Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định của Nhà nước mà Phạm Sỹ H đã thu của người vay: Ghi nhận Phạm Sỹ H đã trả lại cho người vay số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật, cụ thể: Anh Mai Xuân H2 19.676.712 đồng; anh Uông Việt Q 22.705.479 đồng; anh Viên Đình G 5.342.466 đồng.

Về vật chứng:

Công nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại các giấy tờ bao gồm: 01 CCCD mang tên Uông Việt Q; 01 CCCD mang tên Mai Xuân H2; 01 CCCD và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 đều mang tên Viên Đinh G1 cho anh Q, H2, G1.

Lưu theo hồ sơ vụ án 02 (Hai) giấy vay tiền của anh Uông Việt Q và Viên Đình G là tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của Phạm Sỹ H.

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS.

Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện Quảng Xương;
  • - THADS huyện Quảng Xương;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - UBND xã Quảng Lưu;
  • - Công an xã Quảng Lưu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (criminal case)

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Sỹ H phạm tội cho vay lãi nặng trong GDDS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger