Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/DSST

Ngày: 25/3/2025

"V/v tranh hợp đồng vay tài sản

và yêu cầu mở lối đi "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Quang Trung

Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Loan Anh - thư ký của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp "hợp đồng vay tài sản và yêu cầu mở lối đi", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 13/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (S2), Địa chỉ: Số G T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Chi nhánh: Số A -18 Đại lộ H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tô Thanh H (theo giấy uỷ quyền số 25/UQ – GĐ ngày 07/8/2024) (có mặt)

Bị đơn: Ông Trần Ngọc H1, sinh năm 1977, bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Bé B, bà Lư Kim Ê, ông Trần Minh T (có mặt)

Bà Trần Thị T1, bà Trần Thị H2, ông Trần Văn T2, ông Trần Văn T3, Trần Hoàng T4, Trần Hoàng T5, Trần Hoài L, Trần Minh T6 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ.

Hà Thị Minh T7, sinh năm 1983; Địa chỉ 1: Số A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ 2: Số B Trung tâm thương Mại C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 trình bày:

Ngày 16/8/2022 Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 có cho ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P vay số tiền 8.000.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 0031/2022/HĐTDTDH - CN/SHB.130304, bị đơn không thực hiện việc trả nợ như hai bên đã thỏa thuận. Nay Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ là 7.783.722.421 đồng, trong đó nợ gốc là 7.600.000.000 đồng, nợ lãi 183.722.421 đồng (lãi tạm tính đến ngày 25/01/2024) bị đơn ông H1, bà P tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng hai bên đã ký kết đến khi trả xong nợ.

Trường hợp bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P không thanh toán được nợ, đề nghị phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp số 0031/2022/HĐTC - CN/SHB.130304 ngày 16/8/2022, là 03 quyền sử dụng đất gồm: (1) quyền sử dụng đất số CL 461335, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 03501 cấp ngày 06/02/2018, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên bà P ngày 07/03/2018. (2) quyền sử dụng đất số CL 461287, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 03502 cấp ngày 06/02/2018, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên bà P ngày 07/03/2018. (3) quyền sử dụng đất số DE862932, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 05811 cấp ngày 06/6/2022, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp, điều chỉnh sang tên ông H1 ngày 06/7/2022 để Ngân hàng thu hồi nợ.

Đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ngân hàng có ý kiến như sau: Đồng ý để lại lối đi cho các hộ dân phía sau, ở vị trí A, B trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024, về giá trị đất để mở lối đi thì ngân hàng không yêu cầu xem xét giải quyết.

Bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P trình bày:

Ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P vắng mặt – không rõ lý do

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà T1 có chuyển nhượng phần đất cho bà Hà Thị Minh T7, bà T7 cam kết chừa lại lối đi chung cho các hộ dân phía sau với chiều ngang 02m, chiều dài đến đất của các hộ dân (có làm tờ cam kết). Sau đó bà T7 chuyển nhượng đất lại cho vợ chồng bị đơn thì bị đơn cũng cam kết chừa lại lối đi cho các hộ dân phía sau đất của bị đơn (có làm biên bản thoả thuận).

Nay những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1, bà Nguyễn Thị Bé B, bà Trần Thị H2, ông Trần Văn T2, ông Trần Văn T3, bà Lư Kim Ê, ông Trần Minh T, bà Trần Hoàng T4, Trần Hoàng T5, Trần Hoài L, Trần Minh T6 có đơn yêu cầu độc lập với nội dung là yêu cầu ngân hàng và vợ chồng ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P mở lối đi cho các hộ dân phía sau như đã thoả thuận trước đây ở vị trí A, B trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024, không đồng ý trả giá trị đất cho yêu cầu mở lối đi vì phần này bà T1 không chuyển nhượng cho bị đơn.

Đối với Hà Thị Minh T7 thì người liên quan không không biết ở đâu, không cung cấp thêm được địa chỉ khác của bà T7

Tại phiên toà, đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 vẫn giữ nguyên khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay là 8.918.799.223 đồng (trong đó nợ gốc 7.600.000.000 đồng, lãi tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 1.318.799.223 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ. Trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ như hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận thì đề nghị phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp mà bị đơn đã thế chấp cho ngân hàng để thu hồi nợ.

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 đồng ý mở lối đi cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở vị trí A, B trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, về giá trị đất để mở lối đi thì ngân hàng không yêu cầu xem xét giải quyết.

Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Giữ nguyên yêu cầu độc lập, không có ý kiến gì thêm.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P nhiều lần đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự. Tuy nhiên, bị đơn ông H1, bà P vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được giữa các bên đương sự. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P đã được Tòa án tiến hành niêm yết, triệu tập hợp lệ theo quy định tuy nhiên bị đơn vẫn vắng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S1 và ông H1, bà P được thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, đúng với quy định pháp luật, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay là 8.918.799.223 đồng (trong đó nợ gốc 7.600.000.000 đồng, lãi tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 1.318.799.223 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì đề nghị phát mãi tài sản mà bị đơn đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ.

Xét yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T1, Nguyễn Thị Bé B, Trần Thị H2, Trần Văn T2, Trần Văn T3, Lư Kim Ê, Trần Minh T, Trần Hoàng T4, Trần Hoàng T5, Trần Hoài L, Trần Minh T6:

Trên phần đất tranh chấp có phần đất thể hiện lối đi của các hộ dân tại vị trí A, B theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Xét thấy, phần đất này các hộ dân yêu cầu có lối đi từ trước đến nay, liền kề và các hộ phía sau không có lối đi nào khác, ngân hàng cũng đồng ý khi xử lý tài sản thế chấp sẽ để lại lối đi chung như trên. Tuy nhiên do phần lối đi A và B này không đủ diện tích tách thửa nên ghi nhận sự thỏa thuận giữa ngân hàng và những người liên quan, do đó khi đề nghị phát mãi tài sản thế chấp Ngân hàng phải để lại phần lối đi ở vị trí A và B theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C làm lối đi chung cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S1 yêu cầu bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P phải trả nợ theo hợp đồng tín dụng số 0031/2022/HĐTDTDH - CN/SHB.130304 ngày 16/8/2022. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu nguyên đơn, bị đơn mở lối tại vị trí A, B theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Do đó quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp "Hợp đồng vay tài sản và yêu cầu mở lối đi" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P sinh sống tại địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết theo quy định, tuy nhiên bị đơn ông H1, bà P vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng thương mại cổ phần S1 và bị đơn ông H1, bà P ký hợp đồng tín dụng số 0031/2022/HĐTDTDH - CN/SHB.130304 ngày 16/8/2022, hợp đồng được ký trên cở sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn ông H1, bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như các bên đã thỏa thuận. Nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông H1, bà P phải trả cho nguyên đơn số tiền vay là 8.918.799.223 đồng (trong đó nợ gốc 7.600.000.000 đồng, lãi tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 1.318.799.223 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ là có căn cứ. Do đó đề nghị của Viện Kiểm S là có cơ sở chấp nhận.

Để đảm bảo cho khoản vay bị đơn đã ký hợp đồng thế chấp tài sản số 0031/2022/HĐTC – CN/SHB.130304 ngày 16/8/2022 với Ngân hàng thương mại cổ phần S1, tài sản thế chấp là 03 quyền sử dụng đất gồm:

  1. quyền sử dụng đất số CL 461335, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 03501 cấp ngày 06/02/2018, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên bà P ngày 07/03/2018.
  2. quyền sử dụng đất số CL 461287, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 03502 cấp ngày 06/02/2018, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên bà P ngày 07/03/2018.
  3. quyền sử dụng đất số DE862932, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 05811 cấp ngày 06/6/2022, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp, điều chỉnh sang tên ông H1 ngày 06/7/2022.

Quá trình giải quyết nguyên đơn có yêu cầu thẩm định đo đạc phần đất tranh chấp theo thực tế sử dụng thể hiện như sau: Tại bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2024 thì trên đất tranh chấp có vật kiến trúc, cây trồng và một phần đất là lối đi chung của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, căn cứ vào hợp đồng thế chấp tài sản số 0031/2022/HĐTC – CN/SHB.130304 ngày 16/8/2022 giữa nguyên đơn, bị đơn tại Điều 1 mục 1.1 – 1.14 ghi nhận “....tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và các công trình khác ......”. Nguyên đơn đã thực hiện thủ tục đăng ký thế chấp đúng quy định về đăng ký tài sản bảo đảm. Hợp đồng thế chấp tài sản là do các bên tự nguyện giao kết theo quy định pháp luật. Do đó trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ như hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã thỏa thuận thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mãi tài sản mà bị đơn đã thế chấp cho ngân hàng để thu hồi nợ nên nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi các tài sản khác gắn liền với quyền sử dụng đất đã thế chấp để thu hồi nợ. Tuy nhiên nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 đồng ý mở lối đi cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên việc thanh lý tài sản thế chấp được thực hiện cụ thể như sau:

Khi đề nghị phát mãi tài sản thế chấp Ngân hàng phải để lại phần lối đi ở vị trí A và B theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C làm lối đi chung cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như thoả thuận giữa các đương sự. Phần đất còn lại nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2024.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị T1, bà Nguyễn Thị Bé B, bà Trần Thị H2, ông Trần Văn T2, ông Trần Văn T3, bà Lư Kim Ê, ông Trần Minh T, bà Trần Hoàng T4, Trần Hoàng T5, Trần Hoài L, Trần Minh T6 có đơn yêu cầu độc lập với nội dung là yêu cầu ngân hàng và vợ chồng ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P chừa lại lối đi cho các hộ dân phía sau như đã thoả thuận trước đây ở vị trí A, B bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024, không đồng ý trả giá trị đất cho yêu cầu mở lối đi vì phần đất này bà T1 không chuyển nhượng cho bị đơn. Phía nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 đồng ý mở lối đi cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở vị trí A, B trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Như đã nhận định, phân tích ở mục [3] Hội đồng xét xử ghi nhận thoả thuận của đương sự về việc Ngân hàng đồng ý mở lối đi ở vị trí A diện tích 145,0 m² và vị trí B diện tích 29,5 m² theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 làm lối đi chung cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đối với phần giá trị đất thì ngân hàng không yêu cầu xem xét giải quyết.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá là 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1, bà Nguyễn Thị Bé B, bà Trần Thị H2, ông Trần Văn T2, ông Trần Văn T3, bà Lư Kim Ê, ông Trần Minh T, bà Trần Hoàng T4, Trần Hoàng T5, Trần Hoài L, Trần Minh T6 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 150; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 272 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 254, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Điều 91; Điều 94; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S1 đối với bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P

Buộc ông H1, bà P trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 số tiền là 8.918.799.223 đồng (tám tỷ chín trăm mười tám triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn hai trăm hai mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc 7.600.000.000 đồng, lãi tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 1.318.799.223 đồng khi án có hiệu lực.

Kể từ ngày 26/3/2025 ông H1, bà P còn phải trả lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.

2. Ghi nhận sự thoả thuận của đương sự về việc nguyên đơn đồng ý mở lối đi cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở vị trí A diện tích 145,0 m² và vị trí B diện tích 29,5 m² theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C làm lối đi chung cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Về phần giá trị đất mở lối đi thì ngân hàng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản thế chấp:

Trường hợp ông H1, bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo quy định để thu hồi nợ, tài sản thế chấp gồm:

  1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 461335, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 03501, diện tích 210 m², thửa số 125, tờ bản đồ số 29, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp ngày 06/02/2018, điều chỉnh sang tên bà P ngày 07/03/2018.
  2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 461287, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 03502, diện tích 1.244 m², thửa số 109, tờ bản đồ số 29, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp ngày 06/02/2018, điều chỉnh sang tên bà P ngày 07/03/2018.
  3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE862932, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 05811 diện tích 256 m², thửa số 177, tờ bản đồ số 29, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/6/2022, điều chỉnh sang tên ông H1 ngày 06/7/2022.

Cụ thể như sau:

Khi đề nghị phát mãi tài sản thế chấp Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S1 phải để lại phần lối đi ở vị trí A và vị trí B theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C làm lối đi chung cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như đã ghi nhận trên.

Phần đất còn lại theo 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên nguyên đơn được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2024.

(Đính kèm theo bản trích đo địa chính số 1052/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2024)

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá là 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó bị đơn ông Trần Ngọc H1, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông H1, bà P phải chịu 116.918.799 đồng (một trăm mười sáu triệu chín trăm mười tám ngìn bảy trăm chín mươi chín đồng).

Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 006287 ngày 06/5/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006468 ngày 10/9/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện phong Điền, thành phố Cần Thơ.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - TAND Tp. Cần Thơ
  • - VKSND H. Phong Điền
  • - THA H. Phong Điền
  • - Lưu (HS - 2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cúc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/DSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu mở lối đi

  • Số bản án: 20/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu mở lối đi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh hợp đồng vay tài sản và yêu cầu mở lối đi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger