|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày: 20/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Bùi Đức Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thanh Hoàn
ông Nguyễn Thế Căn
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Đình Thi, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà hình sự số 191/TB-TA ngày 19/02/2025; Thông báo về thời gian mở phiên toà hình sự số 249/TB-TA ngày 06/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thị T; tên gọi khác: không; sinh ngày 20/5/2000, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Vi Thị L (đã chết); chồng: chưa có; con: có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 14/8/2024, hiện tạm giam tại Khu vực giam giữ M, trại tạm giam Công an tỉnh Q - có mặt.
2. Đỗ Hoàng H; tên gọi khác: không; sinh ngày 22/01/1997, tại C, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: khu H, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hữu S và bà Trịnh Thị H1; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 14/8/2024, hiện tạm giam tại Khu vực giam giữ M, trại tạm giam Công an tỉnh Q - có mặt.
- Người làm chứng: chị Vi Thị Ly L1, chị Võ Thị Mỹ T1, chị Nguyễn Thị Thanh T2, anh Vũ Văn M, anh Phan Đức V và anh Hoàng Duy Đ, đều vắng mặt.
2
- Người kiến: ông Nguyễn Văn N - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 7/2024, do không có công việc ổn định nên Phạm Thị T nảy sinh ý định mua ma túy về bán cho người khác để kiếm lời.
Tháng 7/2024, T mua được 02 viên ma tuý “thuốc lắc” của 01 người phụ nữ tên Nguyễn Thị Thu H2, nhà ở khu H, phường N, thành phố M (T chưa trả tiền, cũng chưa thoả thuận giá tiền) rồi mang về phòng ngủ của mình tại khu H, phường N, thành phố M cất giấu để ai hỏi mua thì bán. Đến ngày 10/8/2024, T vẫn chưa bán được số ma tuý trên, nên T mua tiếp 20 túi Ketamine với giá 1.300.000đ/túi và 03 túi ma tuý “nước vui” với giá 3.800.000đ/túi của người phụ nữ tên H2 trên với tổng tiền là 37.400.000 đồng, T đã trả trước 13.000.000 đồng, rồi mang ma tuý mua được về cất giấu tại phòng ngủ của mình để bán dần cho người khác.
Khoảng 20 giờ ngày 10/8/2024, Phạm Thị T đã bán cho Vũ Văn M 02 túi Ketamine với giá 3.600.000đ tại nhà của T. M đã trả tiền qua chuyển khoản cho T. Sau khi mua được ma tuý, M đã mang về sử dụng hết cho bản thân.
Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 11/8/2024, T bán cho Phan Đức V 01 túi Ketamine với giá 2.000.000đ và yêu cầu V chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản ngân hàng của T rồi đến nhà T nhận ma tuý. Lúc này, do V không có tiền trong tài khoản nên đã đưa 2.000.000đ tiền mặt cho Hoàng Duy Đ rồi nhờ Đ chuyển số tiền này vào tài khoản ngân hàng của T nhưng không cho Đ biết là chuyển tiền để mua ma tuý. Sau khi nhận được tiền, T để 01 túi ma tuý Ketamine trước cửa nhà rồi báo cho V đến lấy mang về tự sử dụng hết.
Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 11/8/2024, T đã bán nợ cho Vi Thị Ly L1 01 túi Ketamine với giá 1.500.000đ tại nhà của T. Sau đó, L1 mang số ma tuý vừa mua được về sử dụng hết cho bản thân.
Đến khoảng 16 giờ ngày 12/8/2024, tại nhà của Tủy tiếp tục bán cho L1 01 túi Ketamine với giá 1.500.000₫ (Ly trả bằng tiền mặt), rồi mang về nhà tại khu H, phường N, thành phố M lấy một ít ra sử dụng, số ma tuý còn lại thì L1 cất giấu tại phòng ngủ của mình để khi nào có nhu cầu thì sử dụng tiếp.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/8/2024, khi L1 đang ở nhà tại khu H, phường N, thành phố M thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ trên mặt bàn trang điểm trong phòng ngủ của L1: 01 túi nilon kích thước (3x3)cm chứa số ma túy còn lại (kí hiệu M1).
Cùng ngày, sau khi biết lực lượng Công an phát hiện, thu giữ ma tuý trong nhà của L1 nên T đã liên lạc báo cho Đỗ Hoàng H biết là đã bán số ma tuý này cho L1 và nhờ H lấy số ma tuý trong phòng ngủ của T mang đi cất giấu. H đồng ý theo chỉ dẫn của T, H đi đến phòng ngủ của T tìm lấy tất cả số ma tuý để trên kệ để giày gồm: 15 túi Ketamine, 03 túi ma tuý “nước vui” và 02 viên ma tuý “thuốc lắc” cho vào 01 chiếc hộp giấy rồi mang sang phòng trọ của Nguyễn Thị Thanh T2 và Võ Thị
3
Mỹ T1 tại số C N, khu G, phường H, thành phố M gửi nhờ nhưng không cho T2 và T1 biết đó là ma tuý, khi nào T đến lấy sau.
Căn cứ tài liệu điều tra, hồi 00 giờ 05 phút ngày 14/8/2024, tổ công tác của Công an thành phố M tiến hành kiểm tra số nhà C N thuộc khu G, phường H, thành phố M. Tại thời điểm kiểm tra có Nguyễn Thị Thanh T2 và Võ Thị Mỹ T1. Quá trình kiểm tra, phát hiện, thu giữ 01 chiếc hộp màu trắng hồng, bên ngoài có chữ “FITOHELP”, bên trong hộp có:
- + 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khoá kẹp, kích thước khoảng (8,5x5) cm, bên trong đựng 05 túi nilon trong suốt, miệng các túi đều có khoá kẹp, cùng kích thước khoảng (3x3)cm, trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý (Kí hiệu M2 đến M6).
- + 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khoá kẹp, kích thước khoảng (8,5x5)cm, bên trong đựng 10 túi nilon trong suốt, miệng các túi đều có khoá kẹp, cùng kích thước khoảng (3x3)cm, trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý (Kí hiệu M7 đến M16).
- + 03 túi nilon màu đen được hàn kín, kích thước khoảng (10x7)cm, bên ngoài các túi có in chữ “Ferrari”, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột mềm, nghi là ma tuý (Kí hiệu M17 đến M19).
- + 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khoá kẹp, kích thước khoảng (9x5)cm, trong túi chưa 01 viên nén và 02 mảnh vỡ viên nén màu xám không rõ hình dạng, kích thước, nghi là ma tuý (Kí hiệu M20).
Ngày 14/8/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Thị T và Đỗ Hoàng H. Thu giữ của T 01 điện thoại di động Iphone màu tím, đã qua sử dụng, gắn sim số: 0395.639.005; thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen, đã qua sử dụng, gắn sim số: 0986.838.567.
Kết luận giám định số 1305/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M16 gửi giám định là ma tuý; loại: Ketamine, khối lượng M1 là 0,229 gam, tổng khối lượng từ M2 đến M16 là: 14,328 gam; Tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine trong mẫu vật kí hiệu M17. M18, M19, khối lượng mẫu vật kí hiệu M17 là 3,055 gam, M18 là 3,587 gam và M19 là 3,399 gam; Mẫu vật kí hiệu M20 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA, khối lượng 1,065 gam;
Kết luận giám định số 6740/KL-KTHS ngày 13/9/2024 của V1 Bộ C1 kết luận: Xác định được hàm lượng các chất ma tuý Methamphetamine, MDMA và Ketamine có trong các mẫu M17, M18 và M19.
Căn cứ 02 bản Kết luận giám định trên, tính tổng khối lượng các chất ma tuý có trong mẫu M17, M18 và M19 là: 0,748456 gam Methamphetamine, 0,01344 gam MDMA và 0,184825 gam Ketamine.
Vật chứng, đồ vật, tài sản trong vụ án: đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định, 02 chiếc điện thoại gắn sim liên lạc thu giữ của Phạm Thị T, Đỗ Hoàng H cùng các vật chứng, đồ vật còn lại, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo quy định.
Những người làm chứng Vũ Văn M, Phan Đức V, Vi Thị Ly L1 vắng mặt tại phiên tòa ngày hôm nay nhưng có lời khai phù hợp với lời khai của Phạm Thị T về việc mua bán ma túy như trên, ngoài ra Vi Thị Ly L1 còn khai sau khi mua được ma
4
túy của T lần 2, L1 lấy một ít ra sử dụng, số ma tuý còn lại thì L1 cất giấu tại phòng ngủ của mình để khi nào có nhu cầu thì sử dụng tiếp, đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/8/2024, khi L1 đang ở nhà tại khu H, phường N, thành phố M thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ 01 túi nilon chứa số ma túy còn lại.
Những người làm chứng chị Võ Thị Mỹ T1, chị Nguyễn Thị Thanh T2 vắng mặt tại phiên tòa ngày hôm nay nhưng có lời khai thể hiện: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/8/2024, Đỗ Hoàng H mang 01 chiếc hộp giấy đến phòng trọ của chị T1 và chị T2 tại số C N, khu G, phường H, thành phố M gửi nhờ và nói là hộp Pod, khi nào T đến lấy sau. Chị T1 và chị T2 không biết trong hộp giấy chứa ma túy.
Người làm chứng anh Hoàng Duy Đ vắng mặt tại phiên tòa ngày hôm nay nhưng có lời khai thể hiện: Khoảng hơn 00 giờ ngày 11/8/2024, khi anh Đ đang ngồi uống nước cùng V tại đường Đ thuộc phường T, thành phố M thì V đưa 2.000.000đ tiền mặt cho anh Đ rồi nhờ anh Đ chuyển số tiền này vào tài khoản ngân hàng của T, anh Đ không biết nội dung mua bán ma túy giữa V và T.
Tại biên bản làm việc thu thập dữ liệu điện tử trong điện thoại di động của Phạm Thị T hồi 20 giờ 05 phút, ngày 13/8/2024 bút lục số 102 thể hiện: dữ liệu cuộc gọi đi và đến có liên lạc Nguyễn Thị Thu H2 là người đã bán ma tuý cho T, Vi Thị Ly L1, Đỗ Hoàng H, Nguyễn Thị Thanh T2; Phần ứng dụng Ngân hàng M1 có giao dịch chuyển khoản giữa tài khoản của T với tài khoản của H2 ngày 10/08/2024 số tiền 13.000.000 đồng, giao dịch chuyển khoản giữa T và M ngày 10/08/2024 số tiền 3.600.000 đồng, giao dịch chuyển khoản giữa T và Đ ngày 11/08/2024 số tiền 2.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Phạm Thị T và Đỗ Hoàng H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 453/CT-VKSMC ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thị T, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đỗ Hoàng H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà ngày hôm nay, các bị cáo khai nhận phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra. Bị cáo T khai không nói rõ mục đích nhờ H cất giấu hộ ma tuý để sau bán cho người khác mà chỉ thông báo có bán ma tuý cho người khác, đã bị Công an phát hiện nên nhờ H đến lấy ma tuý đi cất giấu ở nơi khác. Bị cáo H khai chỉ biết T có cất giấu ma tuý tại nhà sau khi T thông báo và nhờ đến nhà mang đi cất giấu. H tự ý thức được số ma tuý này T nhờ H cất giấu nhằm mục đích tránh bị lực lượng Công an phát hiện và sẽ bán cho người khác kiếm lời.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đề nghị Hội đồng xét xử:
Bị cáo T sau khi mua được ma túy đã cất giấu tại phòng ngủ của mình để bán dần cho người khác kiếm lời. Trong các ngày 10, 11 và 12 tháng 8 năm 2024, T đã nhiều lần bán ma tuý trái phép cho Vũ Văn M, Phan Đức V và Vi Thị Ly L1 và thu được 7.100.000 đồng. Bị cáo còn nhờ Đỗ Hoàng H cất giấu trái phép 14,512825g ma tuý Ketamine, 1,07844g ma tuý MDMA và 0,748456g ma tuý Methamphetamine
5
mục đích tránh cho T bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Nếu lượng ma tuý này không bị phát hiện, T sẽ tiếp tục bán cho người khác kiếm lời. Do đó hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.
Đối với bị cáo H được bị cáo T nhờ cất giấu số ma túy trên, do có quan hệ quen biết từ trước (T là người yêu cũ của H) nên do nể nang bị cáo H đã giúp bị cáo T cất giấu số ma tuý trên để không bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Quá trình điều tra, truy tố đánh giá H đồng phạm với T về việc cất giấu ma tuý mục đích để bán cho người khác nên đã khởi tố, truy tố H về tội danh “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuy nhiên, tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo H khai mục đích cất giấu số ma tuý trên để tránh việc cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ T. Lời khai của H phù hợp với lời khải của T về diễn biến khách quan của vụ án, thể hiện H chỉ biết T cất giấu ma tuý sau khi được T thông báo, H không được hưởng lợi, hay giúp sức gì cho T về việc bán ma túy, mà mục đích là che giấu tội phạm cho T nên hành vi của bị cáo H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự mới phản ánh đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Theo đó, tại phiên tòa, căn cứ Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử đối với bị cáo Đỗ Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình.
Từ những phân tích trên, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị T từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/8/2024.
Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng H từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định và 02 phôi sim điện thoại 0395.639.xxx và 0986.838.567.
- + Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím thu giữ của bị cáo T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đen thu giữ của bị cáo H.
- + Buộc bị cáo Phạm Thị T nộp số tiền 7.100.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
6
Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với bị cáo Đỗ Hoàng H, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội.
Tại phiên toà ngày hôm nay, các bị cáo khai nhận phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, thể hiện: bị cáo T khai sau khi mua được ma túy đã cất giấu tại phòng ngủ của mình để bán dần cho người khác kiếm lời. Trong các ngày 10, 11 và 12 tháng 8 năm 2024, T đã nhiều lần bán ma tuý trái phép cho Vũ Văn M, Phan Đức V và Vi Thị Ly L1 và thu được 7.100.000 đồng. Bị cáo T còn nhờ Đỗ Hoàng H cất giấu trái phép 14,512825g ma tuý Ketamine, 1,07844g ma tuý MDMA và 0,748456g ma tuý Methamphetamine mục đích tránh cho T bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Nếu lượng ma tuý này không bị phát hiện, T sẽ tiếp tục bán cho người khác kiếm lời. Đối với bị cáo H được bị cáo T nhờ cất giấu số ma túy trên, do có quan hệ quen biết từ trước (T là người yêu cũ của H) nên do nể nang bị cáo H đã giúp bị cáo T cất giấu số ma tuý trên nhằm mục đích để không bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo T khai không nói rõ mục đích nhờ H cất giấu hộ ma tuý để sau bán cho người khác mà chỉ thông báo có bán ma tuý cho người khác; bị cáo H khai mục đích cất giấu số ma tuý trên để tránh việc cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ T. Lời khai của H phù hợp với lời khải của T về diễn biến khách quan của vụ án, thể hiện H chỉ biết T cất giấu ma tuý sau khi được T thông báo, H không được hưởng lợi, hay giúp sức gì cho T về việc bán ma túy, mà mục đích là che giấu tội phạm cho T.
Như vậy, đánh giá nội dung các Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 14/8/2024; Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày
7
15/8/2024; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 13, 14/8/2024; Biên bản kiểm tra và thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 13/8/2024 kèm theo bản ảnh; Biên bản kiểm tra và thu giữ vật chứng ngày 14/8/2024 kèm theo bản ảnh; các Biên bản làm việc về nội dung thu thập dữ liệu điện tử trong điện thoại di động của Vi Thị Ly L1, Đỗ Hoàng H, Phạm Thị T, Võ Thị Mỹ T1, Nguyễn Thị Thanh T2 ngày 13 và 14/8/2024 cùng các bản ảnh kèm theo Biên bản làm việc; các Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường kèm theo các bản ảnh ngày 07/11/2024, ngày 21/11/2024, ngày 28/11/2024; Biên bản nhận dạng ngày 09/10/2024 kèm theo bản ảnh; các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người làm chứng; lời khai của người chứng kiến; trên cơ sở Kết luận giám định số 1305/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, Kết luận giám định số 6740/KL-KTHS ngày 13/9/2024 của V1 Bộ C1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 10, 11 và 12 tháng 8 năm 2024, tại khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thị T đã nhiều lần bán ma tuý trái phép cho người khác, trong đó: T đã bán cho Vũ Văn M 02 túi ma tuý Ketamine với giá 3.600.000 đồng, bán cho Phan Đức V 01 túi ma tuý Ketamine với giá 2.000.000 đồng, bán cho Vi Thị Ly L1 02 lần, mỗi lần 01 túi ma tuý Ketamine với giá 1.500.000 đồng. Ngoài ra, ngày 13/8/2024, tại khu G, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thị T còn có hành vi cất giấu trái phép 14,512825 gam ma tuý Ketamine, 1,07844 gam ma tuý MDMA và 0,748456 gam ma tuý Methamphetamine mục đích để bán cho người khác. Sau đó, T nhờ Đỗ Hoàng H mang số ma tuý này đi cất giấu để không bị lực lượng Công an kiểm tra thì bị phát hiện, bắt giữ.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thị T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Đỗ Hoàng H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 453/CT-VKSMC ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo Phạm Thị T và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tại phiên tòa hôm nay kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, được chấp nhận.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì lợi nhuận, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Vì vậy, cần xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, mới có thể cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt
8
bổ sung.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- [5] Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, gắn sim thu giữ của Phạm Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh đen, gắn sim thu giữ của Đỗ Hoàng H là phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc mua bán, cất giấu ma tuý nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước đối với điện thoại, còn phôi sim không còn giá trị nên tịch thu, tiêu huỷ.
- - 13,75 gam ma tuý loại Ketamine, 0,98 gam ma tuý loại MDMA, 16 túi nilon kí hiệu từ M1 đến M16, 01 túi nilon kí hiệu M20 cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự. Đội giám định số: 1305/KL-KTHS (số A). Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 1305 ngày 21 tháng 8 năm 2024 vụ Vi Thị Ly L1”; 03 túi nilon ký hiệu lần lượt là M17, M18, M19, bên trong mỗi túi đều chứa mẫu chất bột, khối lượng mẫu lần lượt là 2,43 gam, 3,06 gam và 2,87 gam được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Bộ C1. Khoa học hình sự số: 6740/KL-KTHS. Kính gửi: Cơ quan CSĐT C2, Quảng Ninh” là chất cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Buộc bị cáo Phạm Thị T nộp số tiền 7.100.000 đồng là tiền do bán ma túy mà có để sung ngân sách nhà nước.
- [6] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- [8] Về các vấn đề khác:
- Quá trình điều tra xác minh năm 2016, Phạm Thị T có quan hệ yêu đương với anh Hoàng Văn T3, sinh ngày 21/12/1998 và có 01 con sinh ngày 26/10/2016. Tại thời điểm quan hệ, anh T3 chưa đủ 18 tuổi nên không xem xét xử lý về hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”.
- Đối với Vũ Văn M, Phan Đức V, Vi Thị Ly L1, là người mua ma tuý về mục đích để sử dụng, M và V đã sử dụng hết, L1 còn cất giấu 0,229 gam ma tuý Ketamine
9
để sử dụng (bản thân L1 chưa còn tiền án, tiền sự về ma tuý, lượng ma túy thu được chưa đến mức xử lý hình sự), Công an thành phố M hoàn thiện hồ sơ, xử lý hành chính theo quy định.
Đối với các chị Nguyễn Thị Thanh T2 và Võ Thị Mỹ T1, không biết, không liên quan hành vi phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với Nguyễn Thị Thu H2, là người bán ma tuý theo lời khai của Phạm Thị T, Cơ quan điều tra đã tách ra, tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.
Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng H 05 (năm) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.
- Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, gắn sim thu giữ của Phạm Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh đen, gắn sim thu giữ của Đỗ Hoàng H.
- Tịch thu tiêu huỷ: 13,75 gam ma tuý loại Ketamine, 0,98 gam ma tuý loại MDMA, 16 túi nilon kí hiệu từ M1 đến M16, 01 túi nilon kí hiệu M20 cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự. Đội giám định số: 1305/KL-KTHS (số A). Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 1305 ngày 21 tháng 8 năm 2024 vụ Vi Thị Ly L1”; 03 túi nilon ký hiệu lần lượt là M17, M18, M19, bên trong mỗi túi đều chứa mẫu chất bột, khối lượng mẫu lần lượt là 2,43 gam, 3,06 gam và 2,87 gam được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi: “Bộ C1. Khoa học hình sự số: 6740/KL-KTHS. Kính gửi: Cơ quan CSĐT C2, Quảng Ninh”; 02 sim số 0395639005 và 0986838567.
- Buộc bị cáo Phạm Thị T nộp số tiền 7.100.000đ (bẩy triệu một trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 51/2025/THA, ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
10
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phạm Thị T và Đỗ Hoàng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Đức Thanh |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thủy CĐP-Mua bán trái phép chất ma túy
