Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 20-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Nguyễn Văn Đời – Nghề nghiệp: Hưu trí
  • + Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Nghề nghiệp: Giáo viên Trường Tiểu học Trần Quốc Toản

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST-QĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo.

Đặng Thị Minh N (tên gọi khác: Không), sinh năm 2002; nơi ĐKTT và chỗ ở: Tổ A Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quang H và bà Trương Thị P, gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có một con sinh ngày 26/12/2024; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thị Minh N: Ông Lê Hữu P1 - Luật sư Công ty L và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ (Có mặt).

* Bị hại: Cháu Lê Trần Kim N1, sinh ngày 03/10/2016; địa chỉ: Số D đường T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)

* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Ngọc Gia H1, sinh năm 1995 (mẹ của bị hại); địa chỉ: Số D đường T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Bà Phạm Thị T - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995; địa chỉ: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
  2. Bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1999; địa chỉ: thôn A, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Bà Huỳnh Thị Cẩm T2, sinh năm 1997; địa chỉ: Đ, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/3/2024, chị Trần Ngọc Gia H1 tố cáo Trung tâm G (địa chỉ: nhà số H đường T, phường A, quận S, TP.Đà Nẵng) do Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1995, trú: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) làm Giám đốc đã có hành vi bạo hành, đánh cháu Lê Trần Kim N1 (là con ruột chị Gia H1, sinh năm 2016; trú tại nhà số B đường D, phường M, quận S) vào ngày 27/02/2024 tại phường A, quận S.

Vật chứng, tài liệu tạm giữ:

  • 11 đoạn camera liên quan đến vụ án.
  • 06 thẻ nhớ.

Ngày 08/7/2024, Phòng KTHS Công an T3 đã có kết luận giám định số: 538 về nội dung 06 thẻ nhớ, qua đó xác định trong 06 thẻ nhớ có 51.451 tệp video.

Qua điều tra, xác định: Trung tâm G (gọi tắt là Trung tâm) do Nguyễn Thị H2 làm chủ bắt đầu hoạt động từ tháng 01/2023 tại nhà số C đường N (phường M, quận S, TP .) với chuyên môn là dạy dỗ các em nhỏ có độ tuổi từ 02 – 06 tuổi chậm nói và tự kỷ. Tháng 01/2024, Trung tâm chuyển về nhà số H đường T (phường A, quận S, TP .) để hoạt động. Thời điểm này, Trung tâm chưa có giấy phép đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp phép.

Do cháu Lê Trần Kim N1 (sinh ngày 03/10/2016, trú nhà số D đường T, phường M, quận S, TP . là con ruột chị Gia H1) bị mắc bệnh hội chứng tự kỷ mức độ nặng, nên vào ngày 15/4/2023, chị Gia H1 gửi cháu N1 vào Trung tâm để được chăm sóc và giáo dục. Đến tháng 01 năm 2024, chị Gia H1 phát hiện cháu Kim N1 có biểu hiện bất thường về tâm lý như sợ sệt, không muốn đến Trung tâm để học nên nghi ngờ các cô giáo của Trung tâm có hành vi bạo hành đối với con mình nên đến Trung tâm gặp H2 để yêu cầu được xem camera giám sát tại phòng học của Kim N1 thì phát hiện vào ngày 27/02/2024, cháu Kim N1 bị cô giáo dùng tay, gối ôm đánh vào người cháu Kim N1. Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã thu thập được là 11 đoạn video do chị Gia H1 cung cấp và kết quả trưng cầu giám định đối với 06

thẻ nhớ thì xác định được trong ngày 27/02/2024, Đặng Thị Minh N đã liên tục có những hành vi hành hạ cháu Kim N1. Cụ thể:

  • - Vào lúc 12 giờ 17 phút 40 giây đến 12 giờ 18 phút 57 giây ngày 27/02/2024, Đặng Thị Minh N dùng tay trái túm tóc, kéo lê cháu Kim N1; lấy mềm (chăn) năm vào mặt, sau đó nhét vào miệng cháu Kim N1.
  • - Vào lúc 12 giờ 51 phút ngày 27/02/2024, Đặng Thị Minh N dùng tay phải túm tóc Kim N1, kéo từ trước về sau.
  • - Vào lúc 13 giờ 00 phút 35 giây ngày 27/02/2024, Đặng Thị Minh N nằm bên cạnh cháu Kim N1, dùng tay phải cầm chăn (mềm) dí vào mặt của Kim N1, sau đó túm tóc, kéo đầu từ phải sang trái xuống gối (gối kê đầu).

Ngoài ra, qua điều tra xác định: cháu Lê Trần Kim N1 có giấy chứng nhận điều trị tại Bệnh viện T4 do có bệnh: Tự kỷ mức độ nặng. UBND phường M cũng đã có giấy xác nhận khuyết tật, xác nhận cháu Lê Trần Kim N1 khuyết tật ở mức độ nặng.

Ngày 17/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận S ra quyết định trưng cầu giám định số: 566, Trưng cầu Trung tâm P2 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, xác định tình trạng bệnh tâm thần, khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi tại thời điểm trước, trong khi xảy ra vụ việc và thời điểm hiện tại; Rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể là bao nhiêu % của cháu Lê Trần Kim N1. Tuy nhiên, ngày 18/6/2024, đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Trần Ngọc Gia H1 không chịu phối hợp đưa cháu N1 đi giám định và đã có đơn từ chối giám định.

Bản cáo trạng số 113/CT-VKS-ST ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Đặng Thị Minh N về tội “Hành hạ người khác” theo điểm a khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 140; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Thị Minh N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 11 đoạn video và 06 thẻ nhớ ghi lại nội dung sự việc.

Vê dân sự: Bị báo N2 đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không có yêu cầu gì thêm.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Thị Minh N: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm

trọng, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cậu ruột là liệt sĩ; hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 54 Bộ Luật hình sự xử cho bị cáo được cải tạo không giam giữ thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Thống nhất về tội danh và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xét xử bị cáo với mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Trần Ngọc Gia H1 nêu ý kiến: Thống nhất với ý kiến của bà Phạm Thị T. Đối với yêu cầu trả hồ sơ để điều tra làm rõ hành vi bà Nguyễn Thị H2 – Chủ Trung tâm G có dấu hiệu cấu thành phạm tội Hành hạ người khác, sau khi Tòa án trả hồ sơ có kết quả hành vi của Nguyễn Thị H2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Hành hạ người khác” và cũng không có cơ sở để cho rằng H2 đồng phạm với bị cáo N về tội “Hành hạ người khác”. Tại phiên tòa hôm nay, bà H1 thống nhất với kết quả trả hồ sơ và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này nữa.

* Bị cáo Đặng Thị Minh N thống nhất với lời bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận bổ sung.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn, hối lỗi, bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 27/02/2024, tại Trung tâm G (địa chỉ nhà số H đường T, phường A, quận S, TP .), Đặng Thị Minh N đã có các hành vi đối xử tàn ác đối với cháu Lê Trần Kim N1 bằng các hành vi như: dùng tay túm tóc, kéo đầu cháu

Kim N1 từ phải sang trái, xuống gối (gối kê đầu); túm tóc cháu Kim N1, kéo từ trước về sau; túm tóc, kéo lê cháu Kim N1; khi cháu Kim N1 khóc, hét thì dùng chăn (mềm) đắp lên người cháu Kim N1 (từ đầu gối đến mặt), dí chăn vào mặt, nhét chăn vào miệng cháu Kim N1. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị hại là người dưới 16 tuổi, bị khiếm khuyết về mặt thể chất (khuyết tật nặng) và không thể tự vệ được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Hành hạ người khác” với tình tiết tăng nặng định khung “Đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 113/CT-VKS-ST ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tinh thần của người khác, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác đây là tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo.

[4] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo mang tính bộc phát, vượt quá giới hạn trong quá trình dạy dỗ trẻ; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có cậu ruột là liệt sĩ; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hiện tại bị cáo đang nuôi con nhỏ hơn hai tháng tuổi. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Trần Kim N1 là bà Trần Ngọc Gia H1 thừa nhận đã nhận số tiền 20.000.000 đồng tiền bồi thường của bị cáo để khắc phục hậu quả cho bị hại, đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xét yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung của người đại diện hợp pháp của bị hại thì thấy: HĐXX đã thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại Quyết định số 130/2024/HSST-QĐ ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát đã tiến hành nghiên cứu xem xét đánh giá toàn bộ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và nhận thấy các nội dung

yêu cầu điều tra bổ sung đã được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Hành vi của Nguyễn Thị H2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Hành hạ người khác” và cũng không có cơ sở để cho rằng H2 đồng phạm với bị cáo N về tội “Hành hạ người khác”. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại thống nhất với kết quả nội dung trả hồ sơ của Viện kiểm sát và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này nữa nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về vật chứng: Đối với 11 đoạn video và 06 thẻ nhớ, là chứng cứ của vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[8] Về vấn đề khác: Trong vụ án này còn có hành vi bế xốc ngược người cháu Kim N1 (giống tư thế trồng cây chuối, sau đó dùng tay bóp miệng cháu Kim N1 trong khoảng 20 giây vào ngày 23/02/2024) của Nguyễn Thị H2; Nguyễn Tăng Minh A (Minh A lớn) có hành vi dùng tay trái giữ vào sau gáy của Kim N1 rồi đẩy tới phía trước, đồng thời tay phải nắm tay của bạn học (ngồi phía đối diện Kim N1) đánh vào đầu Kim N1 03 cái, sau đó nói “Tán nó đi con, giỏi quá”; Trần Thị Thanh T1 có hành vi dùng gối ôm đánh vào chân cháu Kim N1 vào ngày 27/02/2024, hành vi của các cô xảy ra nhất thời, không có tính liên tục. Đối với một số nhân viên khác của Trung tâm như Huỳnh Thị Cẩm T2, Trương Thị Minh A1, Bùi Thị Tố U có các hành động véo tay, nắm tóc hoặc đánh vào mông, vào chân các cháu khác. Sau khi xem lại toàn bộ các đoạn video đó và nhận thấy các hành động đó của các cô nêu trên chỉ là các hành động mang tính chất răn đe các cháu, không phải là hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.

Đối với việc Trung tâm G hoạt động nhưng không có giấy phép. Ngày 12/3/2024, UBND quận S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 742 với số tiền 15.000.000 đồng là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[10] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Minh N phạm tội “Hành hạ người khác”.

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 140; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Minh N 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Công an quận Sơn Trà;
  • - Những người tham gia tố tung;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa




Nguyễn Quốc Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự về tội hành hạ người khác

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Hành hạ người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Thị Minh Nga phạm tội “Hành hạ người khác” theo điểm a khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger