TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 18-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
---
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bình; bà Dương Thị Thắm.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 241/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 07/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/02/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T - Sinh năm 1999 – Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn Đ - Sinh năm 1999 - Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn Đ tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2019, đến ngày 15/10/2019 mới tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được 02 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Đ hay ghen mù quáng, đi nhậu về hay đánh đập, chửi bới chị và kiểm soát chị. Ngoài ra, anh Đ đi làm về cũng không đưa tiền cho chị để chăm lo gia đình. Chị và anh Đ đã không chung sống cùng nhau từ tháng 9/2023 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh Đ theo quy định của pháp luật.
Về con: Vợ chồng chị có 01 con chung là Đinh Gia H, sinh ngày 10/10/2019. Hiện cháu đang ở với chị. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, anh Đ đã biết được chị T khởi kiện xin ly hôn anh ra Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T, cho chị T được ly hôn anh Đinh Văn Đ. Về con: Giao cháu Đinh Gia H, sinh ngày 10/10/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị T phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của chị Vũ Thị T, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Vũ Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Đinh Văn Đ có địa chỉ ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Đinh Văn Đ biết việc chị Vũ Thị T xin ly hôn anh. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh Đ vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 26/02/2025, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh Đ vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Như vậy, việc anh Đ không đến Tòa án để giải quyết vụ án là trường hợp cố tình trốn tránh, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt anh Đ.
[2] Về hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Đinh Văn Đ kết hôn ngày 15/10/2019, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hòa thuận được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị T là do anh Đ hay ghen mù quáng, đi nhậu về hay đánh đập, chửi bới chị và kiểm soát chị, anh Đ đi làm về cũng không đưa tiền cho chị để chăm lo gia đình. Từ 9/2023 đến nay, chị T và anh Đ sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn anh Đ.
HĐXX xét thấy, chị T và anh Đ có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì, chứng tỏ anh Đ không mong muốn đoàn tụ. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 06/12/2024, đại diện thôn A, xã N cho biết: Anh Đ và chị T kết hôn với nhau năm 2019 và có 01 con chung, kể từ tháng 9/2023 đến nay, anh Đ và chị T xảy ra mâu thuẫn nên không còn chung sống với nhau.
Như thế chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị T được ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Chị T và anh Đ có 01 con chung là Đinh Gia H, sinh ngày 10/10/2019, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con.
HĐXX thấy, từ khi chị T và anh Đ sống ly thân nhau đến nay cháu H ở với chị T, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con nhưng anh Đ không có ý kiến gì, mặt khác, cháu H còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, cần xử giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên miễn xét.
[4] Về tài sản và nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
[5] Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị T, cho chị T được ly hôn anh Đinh Văn Đ.
- Về con: Giao cháu Đinh Gia H, sinh ngày 10/10/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Vũ Thị T phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006407 ngày 12/11/2024 của Chi cục THADS huyện N; chị T đã nộp đủ tiền án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Đ có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
4
Bản án số 20/2025/HNGĐ - ST ngày 18/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị T yêu cầu ly hôn anh Đinh Văn Đ, yêu cầu trực tiếp nuôi 01 con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung
