|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06/03/2025
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Thị Lan Nhung
Ông Phạm Ngọc Diện
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 403/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1992
Trú tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
Bị đơn anh Trần Văn C, sinh năm 1992
Trú tại: thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C2.
Địa chỉ: Tòa nhà C, khu B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Chắng Khánh Quỳnh L. Chức vụ: phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện C2.
Theo quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019; Quyết định số 111A/QĐ-NHCS ngày 12/9/2023.
(Chị D, anh C có mặt, bà L có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D trình bày: Chị D và anh C xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 6/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh C thường xuyên chửi mắng và đánh đập chị, ngoài ra anh C còn kiểm soát mọi mối quan hệ của chị ở ngoài xã hội một cách vô cớ nên mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng hơn. Đến nay, chị D xác định tình cảm vợ chồng không thể cải thiện, chị không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân như hiện nay do mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung chị D xác định quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012, Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 và Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020 và giao chung 02 con chung là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012, Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 cho anh Trần Văn C được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, chị D xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, chị D xác định vợ chồng có nợ Ngân hàng C2 xã hội huyện L số tiền là 70.000.000đồng; nợ cửa hàng vật liệu xây dựng Quân H số tiền 100.000.000đồng và nợ cửa hàng P số tiền 35.000.000đồng. Khi ly hôn, đối với số nợ của Ngân hàng chính sách vợ chồng tự thỏa thuận anh C sẽ có trách nhiệm trả nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với số nợ cửa hàng vật liệu xây dựng Quân H số tiền và nợ cửa hàng phân bón Tăng T1 thì anh C đã trả xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai anh Trần Văn C trình bày: Anh C1 và chị D xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống cũng như trong việc phát triển kinh tế trong gia đình nên anh đã từng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng sau đó vợ chồng đã nói chuyện và cho nhau cơ hội để cải thiện tình cảm. Tuy nhiên, đến tháng 6/2024 vợ chồng lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên chị D và anh C đã sống ly thân từ khoảng tháng 10/2024 đến nay. Nay chị D yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung, anh Trần Văn C xác định vợ chồng có ba con chung là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012, Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 và Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020. Khi ly hôn, anh yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị D tự nguyện anh không có yêu cầu gì. Về tài sản chung, anh Trần Văn C xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, anh C xác định vợ chồng có nợ Ngân hàng C2 xã hội huyện L số tiền là 70.000.000đồng; nợ cửa hàng vật liệu xây dựng Quân H số tiền 100.000.000đồng và nợ cửa hàng P số tiền 35.000.000đồng. Khi ly hôn, đối với số nợ của Ngân hàng chính sách vợ chồng tự thỏa thuận anh sẽ có trách nhiệm trả nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với số nợ cửa hàng vật liệu xây dựng Quân H số tiền và nợ cửa hàng phân bón Tăng T1 thì anh đã trả xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng C2, do bà Chẳng Khánh Quỳnh L đại diện theo ủy quyền trình bày: Theo hồ sơ vay vốn số 7093126651 ngày 21/3/2024, Ngân hàng C2 – Chi nhánh L1 – Phòng giao dịch huyện L cho anh Trần Văn C, chị Nguyễn Thị Thùy D vay số tiền gốc là 70.000.000đồng. Khi anh Trần Văn C, chị Nguyễn Thị Thùy D ly hôn, Ngân hàng C2 yêu cầu vợ chồng anh Trần Văn C, chị Nguyễn Thị Thùy D phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền là 70.237.329đồng, trong đó nợ gốc là 70.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đến ngày 06/12/2024 là 237.329đồng. Đồng thời, yêu cầu anh Trần Văn C, chị Nguyễn Thị Thùy D tiếp tục chịu lãi phát sinh theo các hợp đồng vay đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh C vắng mặt nên không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy D về việc xét xử cho chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Văn C được ly hôn. Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo nguyện vọng của con, giao 02 con chung là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012, Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 cho anh Trần Văn C được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục; và giao con chung là Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Nguyễn Thị Thùy D được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết; về nợ chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C2 đối với yêu cầu buộc anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị Thùy D phải trả cho Ngân hàng khoản nợ 70.000.000đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay.
Về án phí: buộc chị D phải chịu tiền án phí hôn nhân về việc ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm về việc trả nợ cho Ngân hàng; anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc trả nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C2 là bà Chắng Khánh Quỳnh L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C2 là hoàn toàn phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Văn C xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng không được hòa thuận hạnh phúc nên chị D làm đơn xin ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị D, anh C phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng thiếu sự thông cảm, chia sẻ với nhau trong trong cuộc sống cũng như trong việc xây dựng phát triển kinh tế gia đình. Hơn nữa, vợ chồng lại không tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm dẫn đến vợ chồng thường hay cãi nhau. Trong lúc nóng giận không kiềm chế được nên hai bên có những lời nói thiếu tế nhị xúc phạm lẫn nhau khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do không tìm được biện pháp cải thiện nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay. Mặc dù thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được do mâu thuẫn kéo dài nhưng không thể cải thiện được. Do đó nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị D, xử cho chị D được ly hôn với anh C.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Văn C có ba con chung là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012, Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 và Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020. Khi ly hôn, chị D yêu cầu giao con chung là Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Nguyễn Thị Thùy D được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục và đồng ý giao 02 con chung là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012, Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 cho anh Trần Văn C được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục; còn anh C cũng yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba con chung; Xét thấy, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì các con vẫn được anh C và chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Hơn nữa, cháu G và cháu K đã trên 07 tuổi đều có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ không chung sống với nhau, còn cháu K1 thì vẫn còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012, Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 cho anh Trần Văn C có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung là Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Nguyễn Thị Thùy D có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con, do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: chị D và anh C đều xác định không có và không yêu cầu gì nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Văn C cùng xác định, quá trình chung sống có nợ Ngân hàng C2 xã hội huyện L số tiền là 70.000.000đồng; nợ cửa hàng vật liệu xây dựng Quân H số tiền 100.000.000đồng và nợ cửa hàng P số tiền 35.000.000đồng. Khi ly hôn, chị D và anh C thỏa thuận anh C có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Tuy nhiên sau khi Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án thì Tòa án nhận được đơn yêu cầu độc lập của Ngân hàng C2, phòng giao dịch huyện C2 yêu cầu chị D và anh C phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 70.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng. Xét thấy, số nợ mà chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Văn C vay của Ngân hàng thì ngày 21/3/2024 anh C ký hồ sơ vay của Ngân hàng số tiền 70.000.000đồng, lãi suất là 8,250%/1 năm, lãi suất nợ quá hạn là 10,725% năm, mục đích vay là trồng và chăm sóc cà phê, hạn trả nợ gốc định kỳ 12 tháng, mỗi kỳ trả 14.000.000đồng, hạn trả cuối cùng là ngày 21/3/2029; thời hạn vay là 60 tháng. Số tiền vay này cả chị D và anh C cùng xác định là vay để sử dụng vào mục đích của gia đình và là nợ chung của vợ chồng anh, chị. Mặc dù, khoản nợ vay trên thì chị D và anh C đều thực hiện trả lãi theo đúng thỏa thuận của hồ sơ vay đã ký với Ngân hàng và các khoản nợ đều chưa đến hạn trả cuối cùng. Căn cứ Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới” về các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Nay, chị D và anh C ly hôn sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng C2 về việc thu hồi vốn cho hộ gia đình (vợ chồng chị D và anh C) vay. Do vậy, Ngân hàng C2 yêu cầu chị D và anh C phải trả cho Ngân hàng nợ gốc là 70.000.000đồng và tiền lãi vay đến ngày 21/02/2025 là 202.000đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng là có cơ sở và cần xem xét chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng là hoàn toàn phù hợp.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh C có nguyện vọng và tự nguyện nhận trách nhiệm trả số nợ cho Ngân hàng vì khoản nợ vay đều dùng vào mục đích làm ăn của gia đình và chị D cũng cho rằng số tiền nợ của Ngân hàng anh C vay về để làm ăn và đầu tư vào chăm sóc vườn cà phê. Do vậy, để đảm bảo khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng, cũng như để thuận tiện hơn cho các bên đương sự trong việc thỏa thuận về tài sản sau này, cần buộc anh C phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số nợ gốc 70.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đến ngày 21/02/2025 là 202.000đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/02/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng C2.
Đối với các khoản nợ của cửa hàng vật liệu xây dựng Quân H số tiền 100.000.000đồng và nợ cửa hàng P số tiền 35.000.000đồng. Anh C xác định đã trả xong số nợ trên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Q, bà Lê Thị H1 và bà Quách Thùy T2, đồng thời những người này đều có đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[6] Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn. Anh C phải chịu 3.510.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng (70.202.000đồng x 5% = 3.510.000đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; các Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy D, xử cho chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Trần Văn C được ly hôn.
- Về con chung: Giao con là Trần Thị Kim G, sinh ngày 20/8/2012 và Trần Văn Đăng K, sinh ngày 21/9/2014 cho anh Trần Văn C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con; Giao con là Trần Văn Đăng K1, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Nguyễn Thị Thùy D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về nợ chung: Buộc anh Trần Văn C phải trả cho Ngân hàng C2 số tiền nợ gốc 70.000.000đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay đến ngày 21/02/2025 là 202.000đồng; đồng thời, buộc anh C phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/02/2025 theo hồ sơ vay thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2 số 7093126651 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng C2.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Thùy D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005231 ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Anh Trần Văn C phải chịu 3.510.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (06/3/2025); riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Phạm Thị Thúy |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Thạch Thị Lan Nhung |
Phạm Ngọc Diện |
Phạm Thị Thúy |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D ly hôn với bị đơn anh Trần Văn C
