|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HSST Ngày 13/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hải
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Hà Mạnh Linh, nơi công tác: UBND thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Nguyễn Văn Trò, nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kiều Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 13/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 07/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Đức K, sinh ngày 23/6/2007 (Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo được 17 tuổi 5 tháng 22 ngày) tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12. Bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Hoàng Thị L, sinh năm 1978 hiện đều ở xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ, con: chưa có. Gia đình bị cáo có 4 anh, chị, em, bị cáo là con thứ bốn trong gia đình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/12/2024 đến khi kết thúc phiên toà sơ thẩm. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức K: Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1974; Nơi thường trú: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở hiện tại: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức K: Bà Bùi Thu H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Cháu Vũ Tiến P, sinh ngày 08/12/2007. Trú tại: Khu S, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- + Người đại diện hợp pháp của cháu Vũ Tiến P: Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1970. Trú tại: Khu S, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- + Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1978. Nơi thường trú: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở hiện tại: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 15/12/2024, tại bến đò P thuộc Khu S, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã M, huyện C phát hiện 01 nam thanh niên đang bê 01 thùng cát tông bằng giấy, có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật về pháo hoa nổ nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, nam thanh niên khai nhận tên là Nguyễn Đức K, sinh ngày 23/6/2007. Chỗ ở: Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tại chỗ, K tự nguyện giao nộp 01 thùng cát tông bằng giấy có kích thước 36x36x26cm, bên trong có 06 khối hình hộp chữ nhật đều có đặc điểm: Bên ngoài bọc giấy nhiều màu, nhiều họa tiết, có in chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hình hộp chữ nhật, cao 10 cm, kích thước rộng 17 x dài17 cm, tại 01 cạnh của mỗi khối hình hộp chữ nhật có dây dẫn màu xanh, mỗi khối hình hộp có 49 ống phóng. K khai nhận đây là pháo hoa nổ, K cất giữ để sử dụng vào dịp tết. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ niêm phong 06 khối hình hộp chữ nhật mà K giao nộp trên. Ngoài ra còn tạm giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 Pro Max, bên trong lắp sim số thuê bao 0393907246.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức K tại khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả khám xét đã phát hiện tại tủ quần áo, trong phòng ngủ của Nguyễn Đức K 01 khối hộp hình chữ nhật kích thước 10cm x17cm x17cm, bên ngoài bọc giấy có nhiều hoa văn, màu sắc, có in chữ nước ngoài, một mặt bọc giấy màu nâu nhạt, khối lượng khối hình hộp chữ nhật là 1,7kg. K khai nhận đây là pháo hoa nổ K cất giữ để sử dụng vào dịp tết.
Ngày 15/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1330 trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh P giám định đối với 06 khối hình hộp chữ nhật đều có đặc điểm: Bên ngoài bọc giấy nhiều màu, nhiều họa tiết, có in chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hình hộp chữ nhật, kích thước 10cm x17cm x17 cm, tại 01 cạnh của mỗi khối hình hộp chữ nhật có dây dẫn màu xanh, mỗi khối hình hộp có 49 ống phóng được đưa vào 01 thùng cát tông, dán kín. Tại các cạnh của thùng cát tông có dán giấy niêm phong. Trên mỗi giấy niêm phong có 01 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M và các loại chữ ký của thành phần tham gia và 01 khối hình hộp chữ nhật ( Thu giữ tại phòng ngủ của K) có đặc điểm: Bên ngoài bọc giấy nhiều màu, nhiều họa tiết, có in chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hình hộp chữ nhật, kích thước 10cm x17cm x17 cm, tại 01 cạnh của mỗi khối hình hộp chữ nhật có dây dẫn màu xanh, mỗi khối hình hộp có 49 ống phóng được đưa vào 01 hộp giấy cát tông, dán kín. Bên trên hộp giấy cát tông có ghi “Đồ vật thu giữ tại phòng ngủ của Nguyễn Đức K; SN: 2007 ở khu C, xã H, T, Phú Thọ”. Tại các cạnh của thùng cát tông có dán giấy niêm phong. Trên mỗi giấy niêm phong có 03 hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ và các loại chữ ký của thành phần tham gia.
Tại Kết luận giám định số: 1681/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận: “07 khối hộp đều có kích thước 10cm x 17cm x 17cm bên ngoài đều được bọc giấy có in họa tiết hoa văn nhiều màu sắc và có in chữ nước ngoài, tại một góc vuông của mỗi khối hộp có 01 đoạn dây dẫn màu xanh, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu nâu, đường kính ngoài của mỗi vật hình trụ tròn là 2,4cm, các vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng băng dính và keo, phần dưới của mỗi vật hình trụ tròn đều có đoạn dây dẫn màu xám kết nối với các vật hình trụ tròn bên cạnh gửi đến giảm định đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng màu sắc trong không gian). Tổng khối lượng của 07 khối hộp là 12,1 kg (Mười hai phảy một kilôgam)”.
* Pháo hoa nổ được quy định tại điểm a, khoản 1, điều 3 của Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 của chính phủ về quản lý và sử dụng pháo.
H2 lại đối tượng giám định: 7 kg (Bảy kilôgam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói dược niêm phong dán kín trong 01 thùng giấy cát tông có kích thước 42cm x 31cm x 37cm, bên ngoài thùng được dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu dỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong.
Quá trình điều tra đã xác định được:
Do có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ vào dịp tết Nguyên đán, nên vào khoảng tháng 4 năm 2024, Nguyễn Đức K có hỏi mua của Vũ Tiến P, sinh ngày 08/12/2007 ở khu S, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ (là bạn học của K) 07 giàn pháo hoa nổ loại giàn 49 ống phóng với giá là: 1.000.000đ/ 1 giàn và 2.600.000đ tiền công vận chuyển, tổng số tiền là 9.600.000đ. K đã trả tiền cho P và P đã bán 07 giàn pháo hoa nổ loại giàn 49 ống phóng cho K. Sau khi mua được pháo hoa nổ, K mang về nhà ở Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ và cất giấu tại phòng ngủ của K. Sau đó, đến ngày 15/12/2024, K nhận được tin nhắn của Vũ Tiến P qua ứng dụng Messenger được cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax bên trong lắp sim số thuê bao 0393907246 của chị Hoàng Thị L, sinh năm 1978, ở Khu B, xã H, huyện T ( mẹ đẻ của K) về việc Vũ Tiến P có nhu cầu mua lại 6 giàn pháo hoa nổ của K và K đồng ý bán cho P với giá 2.200.000đ/1 giàn, K đồng ý bán và hẹn P đến bến đò Phùng Xá thuộc xã M, huyện C để mua bán pháo hoa nổ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, K lấy 06 giàn pháo hoa nổ trong tổng số 07 giàn pháo hoa nổ mà K đã mua được của P cho vào thùng cát tông bằng giấy dán kín để mang đi bán cho P thì bị lực lượng Công an huyện C kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.
Ngày 16/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành triệu tập Vũ Tiến P đến trụ sở Công an huyện C để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, P không thừa nhận việc bán pháo hoa nổ cho K và không thừa nhận việc hỏi mua pháo hoa nổ của K. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành đối chất giữa P và K, tuy nhiên, P không thừa nhận việc bán pháo hoa nổ cho K và hỏi mua pháo hoa nổ của K, tiến hành kiểm tra điện thoại đã thu giữ của K, kiểm tra điện thoại của P, Cơ quan CSĐT Công an huyện C không phát hiện nội dung nào liên quan đến việc mua bán pháo hoa nổ giữa P và K. Ngoài lời khai của P không có chứng cứ nào khác về việc mua bán pháo hoa nổ, nên không có căn cứ để xác định Vũ Tiến P có hành vi bán và mua pháo hoa nổ cho K như K đã khai.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, các biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án và các đồ vật, tài liệu liên quan:
- - 12,1 kg pháo hoa nổ, sau giám định đã trả lại 7 kg (Bảy kilôgam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói dược niêm phong dán kín trong 01 thùng giấy cát tông có kích thước 42cm x 31cm x 37cm, bên ngoài thùng được dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy
niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu dỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 Pro Max, bên trong lắp sim số thuê bao 0393907246.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSCK, ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Đức K về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của BLHS.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1, Điều 51; điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 179 và điều 116 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K hình phạt cảnh cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu hủy: 7 kg (Bảy kilôgam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói dược niêm phong dán kín trong 01 thùng giấy cát tông có kích thước 42cm x 31cm x 37cm, bên ngoài thùng được dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong, là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho K98/ Phòng hậu cần- Kỹ thuật/ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh P)
- Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại cho chị Hoàng Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 Pro Max, bên trong lắp sim số thuê bao 0393907246.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức K có quan điểm bào chữa: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đã đề nghị. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, do vậy chưa có nhận thức đầy đủ về pháp luật. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết hành vi phạm tội của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội:
Bị cáo Nguyễn Đức K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai nhận tại phiên tòa đều thống nhất với nhau, phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp với vật chứng thu giữ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 15/12/2024, tại bến đò P thuộc Khu S, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ và tại phòng ngủ của bị cáo thuộc Khu C, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo K đã có hành vi tàng trữ trái phép 12,1kg pháo hoa nổ với mục đích để sử dụng vào dịp tết, thì bị Tổ công tác Công an huyện C kiểm tra, phát hiện.
Pháo hoa nổ là loại hàng hóa Nhà nước cấm tàng trữ và sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại Điểm c, Khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
“ Điều 191. Tội tàng trữ hàng cấm
Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
...”
[3] Xét tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn. Tuy nhiên hành vi của bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm minh.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Ngoài ra, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, ở độ tuổi này bị cáo chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, chưa có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của mình một cách đầy đủ nên dễ bị chi phối bởi tác động bên ngoài và thực hiện các hành vi thiếu suy nghĩ chín chắn. Căn cứ vào nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là “chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội”, không nhằm mục đích trừng trị, do vậy hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn khung hình phạt của bị cáo để áp dụng cho bị cáo là hình phạt cảnh cáo cũng đã bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa và giúp cho bị cáo có định hướng hoàn thiện bản thân phát triển tương lai.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp là học sinh, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Đối với Vũ Tiến P không đủ cơ sở để khẳng định Vũ Tiến P bán trái phép pháo hoa nổ cho K và hỏi mua lại pháo hoa nổ của K như K đã khai nên không có căn cứ để xử lý.
[5] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 7 kg (Bảy kilôgam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói dược niêm phong dán kín trong 01 thùng giấy cát tông có kích thước 42cm x 31cm x 37cm, bên ngoài thùng được dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong, là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 Pro Max, bên trong lắp sim số thuê bao 0393907246 là điện thoại và sim của chị Hoàng Thị L, sinh năm 1978, ở Khu B, xã H, huyện T ( mẹ đẻ của K), không liên quan đến hành vi phạm tôi của bị cáo nên ngày 01/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại cho chị Hoàng Thị L là phù hợp cần xác nhận.
[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 điều 54 Bộ luật hình sự, điều 116 và khoản 2 điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức K hình phạt cảnh cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 7 kg (Bảy kilôgam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả mẫu vật và bao gói dược niêm phong dán kín trong 01 thùng giấy cát tông có kích thước 42cm x 31cm x 37cm, bên ngoài thùng được dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê. Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho K98/ Phòng hậu cần- Kỹ thuật/ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh P).
- Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại cho chị Hoàng Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 Pro Max, bên trong lắp sim số thuê bao 0393907246.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm do người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Văn T nộp thay.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hải |
Bản án số 20/2025/HSST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 20/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ pháo nổ
