|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/3/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Cát Tưởng
- Ông Phạm Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Yến - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2024/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vi Thị M - Sinh năm 1993.
HKTT: Đội 1, thôn Hón, xã Luận Khê, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
Nơi ở: Số 143 Trần Phú, phường Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm 1986.
HKTT: Số nhà F D, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Hiện đang chấp hành án tại đội 33, phân trại số C, Bộ C; Xóm Đ, thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Tại phiên tòa vắng mặt các bên đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên toà chị Vi Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau năm 2012 trên cơ sở tự nguyện đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn tại UBND phường N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại nhà anh T hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau, mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Từ năm 2015 chị đã về nhà ngoại để ở và vợ chồng ly thân nhau từ đó đến nay. Vì thương con chị mong muốn anh T thay đổi để vợ chồng quay về đoàn tụ, nhưng anh T không thay đổi mà còn chơi bời nghiện ngập, nên tháng 11/2023 bị bắt về tội phạm ma tuý và đang phải chấp hành án tại đội 33, phân trại số C, Bộ C; Xóm Đ, thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung, cháu Vi Thị Thùy L – Sinh ngày 12/01/2013. Ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và không yên cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 28/02/2025, anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Vi Thị M tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2013 tại UBND phường N, thành phố T. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hoà thuận hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau. Nay chị M làm đơn xin ly hôn anh cũng đồng ý.
Về con chung: Anh và chị M có 01 con chung cháu Vi Thị Thùy L – Sinh ngày 12/01/2013. Ly hôn anh đồng ý để chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và anh xin tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì hiện nay anh đang phải chấp hành án.
Về tài sản, công nợ: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị Vi Thị M, anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Vi Thị M có đơn đề nghị không hoà giải; Các bên đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227 BLTTDS để xét xử. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 88 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Vi Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vi Thị M khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Vi Thị M có đơn đề nghị Toà án không hoà giải, anh Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử.
[2] Về hôn nhân: Chị Vi Thị M, anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M thấy rằng: Hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của chị M cho thấy, sau khi kết hôn anh, chị đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian đó chỉ tồn tại được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hoà hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau, từ đó mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Lời khai của anh T cũng thừa nhận mâu thuẫn thường xuyên xảy ra nên chị M xin ly hôn anh đồng ý và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Hiện nay anh T do vi phạm pháp luật đang phải chấp hành án tại trại giam.
Từ sự phân tích như trên có đủ cơ sở xác định, tình trạng mâu thuẫn giữa chị Vi Thị M, anh Nguyễn Văn T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Minh X cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
[3] Về con chung: Tại giấy khai sinh số: 105/2015; quyển số 02/2014 ngày 24/6/2015 của UBND xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa xác định cháu Vi Thị Thùy L - Sinh ngày 12/01/2013 có họ tên mẹ là chị Vi Thị M. Kết quả xét nghiệm AND ngày 31/7/2023 cháu Vi Thị Thùy L - Sinh ngày 12/01/2013 có quan hệ huyết thống bố - con với anh Nguyễn Văn T. Bản tự khai ngày 28/02/2025 anh Nguyễn Văn T thừa nhận cháu Vi Thị Thùy L - Sinh ngày 12/01/2013 là co đẻ. Do đó căn cứ Điều 88 Luật Hôn nhân gia đình xác định anh Nguyễn Văn T, chị Vi Thị M là bố, mẹ cháu Vi Thị Thùy L - Sinh ngày 12/01/2013.
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thùy L và không yều cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của chị M là có cơ sở. Bởi nguyện vọng của cháu Thùy L xin được ở với mẹ, bản thân anh T đang chấp hành án tại trại giam, quan điểm của anh T cũng đồng ý giao cháu Thùy L cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Nên căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Thùy L cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Chị M, anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Vi Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án
Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Công nhận cháu Vi Thị Thùy L – Sinh ngày 12/01/2013 là con chung của chị Vi Thị M, anh Nguyễn Văn T. Giao cháu Thùy L cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ: Tòa án không xem xét giải quyết.
Án phí: Chị Vi Thị M phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001891 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (chị M đã nộp đủ tiền án phí).
Chị Vi Thị M, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Hào |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ
