Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HSST

Ngày 12/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung

  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Đắc Hà - Giáo viên trường trung học phổ thông Mê Linh.

  • - 2. Ông Kiều Xuân Mai - Cán bộ hưu trí

  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/3/2025, tại Phòng xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Vũ Thành Đ, sinh ngày 05/9/2008, tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: Tổ F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Vũ Ngọc H và bà Nguyễn Thị H1; Theo Danhbản số 03 lập ngày 03/01/2025 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/01/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 08/01/2008, tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Nguyễn Quốc H3 và bà Khiếu Thị Đ1; Theo D chỉ bản số 382 lập ngày 11/10/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.

    Bị cáo bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Lê Quý H4, sinh ngày 23/10/2007, tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Lê Quốc V và bà Đỗ Thị T; Theo Danhbản số 381 lập ngày 11/10/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự.

    Bị cáo bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Bị hại: Anh Phan Việt A, sinh ngày 07/9/2008; Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình V1, sinh ngày 01/4/2007; Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

  6. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Quốc H2: ông Nguyễn Quốc H3, sinh năm 1976 và bà Khiếu Thị Đ1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin vắng mặt.

  7. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Quý H4: ông Lê Quốc V, sinh năm 1978 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin vắng mặt.

  8. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Thành Đ: ông Vũ Ngọc H, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Tổ F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin vắng mặt.

  9. Người đại diện hợp pháp cho anh Phan Việt A: ông Phan Văn S, sinh năm 1979 và bà Phùng Thị B sinh năm 1986. Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.

  10. Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Đình V1: bà Lưu Thị H5, sinh năm 1987. Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

  11. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4: ông Vũ Văn D1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Chi nhánh S1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.

  12. Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thành Đ: ông Nguyễn Văn L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Chi nhánh S1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/9/2024, Vũ Thành Đ, Nguyễn Quốc H2 và Lê Quý H4 cùng nhau điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu đen, không đeo biển kiểm soát (là xe của bạn Đ gửi tại nhà Đ) đi chơi rồi đến ngồi chơi tại quán nước ở hồ Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, Vũ Thành Đ nhắn tin cho Đàm Quang L1 (sinh ngày 18/10/2009, trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) với nội dung rủ L1 đến quán nước ở hồ Đ gặp Đ và lấy lại chiếc xe mô tô của Đ mà H2 và H4 đang sử dụng. Sau khi nhắn tin cho Đàm Quang L1, Đ bàn với H2 và H4 khi nào nhóm của L1 đến Đ sẽ giả vờ mượn xe nhóm của L1 để đi rồi H2 và H4 tạo lý do để điều khiển xe của Đ, H2, H4 đi để chiếm đoạt xe mô tô của nhóm L1 thì H2 và H4 đồng ý. Sau khi nhận được tin nhắn của Đ thì L1 rủ Nguyễn Khắc T1 (sinh ngày 09/08/2009, trú tại thôn B, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) và Nguyễn Duy M (sinh ngày 13/05/2008, trú tại thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội) đi đến quán nước ở hồ Đ gặp Đ và lấy lại xe giúp Đ thì T1 và M đồng ý. Sau đó, L1, T1 và M cùng nhau đi đến quán “Tóc Việt” ở xã T, huyện M, thành phố Hà Nội để cắt tóc. Khi đang chờ L1 và T1 cắt tóc, M gặp Phan Việt A đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen, biển kiểm soát 29Z1-762.79 đi đổ xăng thì M đi cùng. M cùng Việt A quay lại quán “Tóc V2” chờ L1 và T1. Rồi L1 rủ cả nhóm đi lên thành phố P chơi với nhóm của Đ. Khi cả nhóm chuẩn bị đi thì gặp 02 nam thanh niên là bạn của L1 (chưa xác định được nhân thân) điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu trắng đi đến thì L1 rủ 02 nam thanh niên này đi cùng cả nhóm đi đến thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đi, Việt A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen, biển kiểm soát 29Z1-762.79 chở M và 01 nam thanh niên (không biết tên) còn L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave 110, sơn màu trắng chở T1 và 01 nam thanh niên còn lại (không biết tên). Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/9/2024, nhóm của L1 đi đến quán nước ở gần hồ Đ gặp Đ, H2, H4. Khi này, M rủ Đ, H4 và H2 đi về huyện M, thành phố Hà Nội để đánh nhau với nhóm thanh niên huyện Y thì Đ, H4 và Hiệp đồng Ý. Sau đó, H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu đen, không đeo biển kiểm soát chở Đ và H4 đi trước dẫn đường, nhóm của L1 đi theo sau. Khi đến khu vực huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, H2 đi vào bụi cây ven đường lấy 01 thanh phóng lợn dài khoảng 1,5m và 01 thanh câu liêm dài khoảng 2m đã cất giấu ở đó từ trước rồi tất cả cùng đi qua đường A (đường M), đường C hướng về huyện M. Khi đi đến khu đất đấu giá thuộc địa phận thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội, tất cả dừng lại đứng nói chuyện thì H2 cất giấu phóng lợn và câu liêm ở bụi cây ven đường. Sau đó, 02 nam thanh niên (chưa xác định nhân thân) trên đi về trước. Lúc này, L1 mượn xe mô tô của Đ để L1 và T1 đi bốc đầu xe thì Đ đồng ý rồi đưa chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, sơn màu đen không đeo biển kiểm soát cho L1. Sau khi mượn được xe, L1 chở T1 đi về nhà L1 ăn cơm. Lúc này, Việt A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen biển kiểm soát 29Z1-762.79 chở M đi mua tăm cay và khẩu trang. Chỉ còn lại Đ cùng H2 và H4 ở khu đất đấu giá thì Đ, H2 và H4 bàn nhau “tý bọn kia quay lại thì lấy xe của chúng nó” thì tất cả đồng ý. Một lúc sau, Việt A chở M quay lại khu đất đấu giá. Tại đây, M rủ mọi người đi đến quán X1 để bắt mạng wifi nhắn tin cho L1 mang xe của Đ về. Sau đó, M bảo Việt A chở M và Đ đến quán X1 thì Việt A đồng ý rồi quay xe chuẩn bị đi thì H2 xin đi cùng đồng thời ngồi lên sau Đ rồi Việt A điều khiển xe mô tô chở M, Đ và H2 đi đến quán X1. Trên đường đi, H2 ngồi phía sau nói vào tai Đ là “tý cướp xe của chúng nó” thì Đ nói “ừ” và không nói gì nữa (bút lục 237, 242). Khi đến quán X1, M và Đ xuống xe, H2 bảo Việt A chở H2 quay lại đón H4 thì Đ nói “đón nốt H4 lên đây xong cho em nó về” thì Việt A và Hiệp đồng Ý. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28/9/2024, khi Việt A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen biển kiểm soát 29Z1-762.79 chở H2 quay lại đón H4 tại khu đất đấu giá, tại đây Việt A dừng xe, tắt máy, chống chân chống xe, Việt A và H2 vẫn ngồi trên xe. Lúc này, H2 bảo Việt A xuống xe để H2 lái xe thì Việt A không đồng ý nên H2 dùng tay phải rút chìa khóa xe mô tô của Việt A đồng thời xuống xe đứng bên phải xe bảo Việt A ngồi lùi lại thì Việt A ngồi lùi về phía đuôi xe, H2 ngồi lên vị trí lái xe. Sau đó, H2 bảo Việt A ngồi lùi lại cho H4 ngồi giữa, Việt A không đồng ý thì H2 quát to bảo Việt A “xuống xe” và H4 cũng đi đến quát Việt A “xuống xe”. Khi này, Việt A biết H2 và H4 đang muốn chiếm đoạt chiếc xe mô tô của mình nên Việt A sợ hãi và xuống xe đứng ở bên trái xe vừa khóc vừa nói “các anh cho em xin, xe này em đi mượn”. Lúc này, H4 ngồi lên xe rồi H2 và H4 bảo Việt A “đi ra lấy câu liêm để đi” thì Việt A quay người định đi ra lấy phóng lợn và câu liêm ở bụi cây ven đường thì H2 nổ máy xe, tăng ga quay đầu xe chở Hào phóng đi. Ngay lúc này, Việt A quay lại dùng tay nắm vào đuôi xe để giữ xe lại nhưng H2 vẫn tiếp tục tăng ga xe phóng đi kéo theo Việt Anh trên đường khoảng 30m thì Việt A bị tuột tay ngã ra đường xây sát rách da chảy máu ở vùng đỉnh trái, khuỷu tay trái, đầu gối hai bên, mu bàn tay trái, H2 điều khiển xe chở Hào phóng đi. Sau đó, H2 điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen biển kiểm soát 29Z1-762.79 vừa chiếm đoạt được chở H4 quay lại quán X thấy Đ đang ngồi ở ghế đá trước cửa quán thì H4 nói với Đ “lên xe nhanh lên” thì Đ không nói gì rồi chạy ra ngồi lên xe, H2 bảo Đ chỉ đường đi về P thì Đ chỉ đường rồi H2 điều khiển xe mô tô chở H4 và Đ đi về thành phố P. Trên đường đi, H2 và H4 kể loại toàn bộ quá trình chiếm đoạt chiếc xe mô tô của Việt A thì Đ không nói gì. Sau đó H2 bảo đi về quán C ở gần hồ Đ để tháo biển kiểm soát xe mô tô Đ và H4 đồng ý. Khi đến quán C, H2 lấy cờ lê trong quán để tháo biển kiểm soát 29Z1-762.79 ra rồi cất vào gầm giường của quán. Sau đó, H2, H4 và Đ điều khiển chiếc xe mô tô vừa chiếm đoạt được đi chơi game rồi lên thành phố T chơi.

Đến khoảng 21 giờ 15 phút ngày 28/9/2024, L1 và T1 quay lại quán X thì M kể về việc H2 và H4 vừa điều khiển xe mô tô của Việt A đến đón Đ đi. Rồi L1 và T1, M quay lại tìm Việt A. Sau đó, Việt A được M cùng người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2. Ngày 28/9/2024, chị Phùng Thị B là mẹ đẻ của Phan Việt A đã đến Công an xã C, huyện M trình báo sự việc.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M, Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4, Vũ Thành Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản liên quan gồm: 01 biển kiểm soát số 29Z1-762.79; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen, số khung: RLHJA3920NY228130, số máy: JA39E2725107, xe đã qua sử dụng; 01 đoạn tuýp sắt dài 2,1m có hàn dao quắm dài 0,325m; 01 đoạn tuýp sắt dài 1,8m có hàn dao nhọn dài 0,195m; 01 đôi dép lê đế màu đen, quai dép kẻ màu nâu, có ghi chữ BURBERRY.

Tại Kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện M, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen, biển kiểm soát 29Z1-762.79 có giá trị 6.000.000 đồng.

Ngày 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ % tổn hại sức khỏe của Phan Việt A. Tuy nhiên, bị hại Phan Việt A đã từ chối giám định thương tích với lý do thương tích chỉ là xây sát bên ngoài, không bị thương tích gì lớn và không yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen, biển kiểm soát 29Z1-762.79, quá trình điều tra xác định: chiếc xe mô tô này là tài sản của chị Lưu Thị H5 là mẹ của cháu Nguyễn Đình V1. Ngày 28/9/2024, cháu V1 đã cho Phan Việt A mượn chiếc xe mô tô trên. Ngày 30/12/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Lưu Thị H5 quản lý, sử dụng.

Đối với 01 đôi dép lê đế màu đen, quai dép kẻ màu nâu, có ghi chữ BURBERRY: Quá trình điều tra xác định đôi dép trên là tài sản của Phan Việt A. Ngày 30/12/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại đôi dép trên cho Phan Việt A quản lý, sử dụng.

Đối với Đàm Quang L1, Nguyễn Khắc T1, Nguyễn Duy M: quá trình điều tra xác định L1, T1, M không biết, không thỏa thuận, thống nhất gì với Đ, H2, H4 để chiếm đoạt tài sản của Phan Việt A nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSĐA ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4, Vũ Thành Đ về tội “Cướp tài sản” theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4, Vũ Thành Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu. Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Khi được nói lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và các bị cáo mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt cho xã hội.

  • - Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người đại diện hợp pháp vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: KhoảnĐiều 168; điểm p (đối với bị cáo Đ), s KhoảnĐiều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luậtsự năm 2015. Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Quốc H2 từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

  • + Bị cáo Lê Quý H4 từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

  • + Bị cáo Vũ Thành Đ từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.

Các bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về phần dân sự: đã được giải quyết xong nên không xem xét giải quyết.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 phát biểu ý kiến: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố đối với bị cáo H2 và bị cáo H4. Quá trình điều tra, cũng như xét xử các bị cáo thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là sai. Khi phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo H2 mới hơn 16 tuổi, bị cáo H4 mới hơn 17 tuổi và thiếu sự quan tâm của gia đình nên nhận thức pháp luật còn hạn chế . Các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm s KhoảnKhoản 2 ĐiềuĐiều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 với mức án ở mức thấp nhất do Đại diện Viện kiểm sát đề ra. Ngoài ra không có nội dung tranh tụng nào khác.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thành Đ phát biểu ý kiến: Nhất trí với tội danh phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố đối với bị cáo Đ. Bị cáo thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là sai. Khi phạm tội bị cáo mới hơn 16 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn, mẹ bị cáo suy giảm lao động 55% do bị tai nạn lao động, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng và gia đình bị cáo hiện nay có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Mặt khác, Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, là người khuyết tật và đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra giúp cơ quan điều tra giải quyết vụ án được nhanh chóng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b, t, p, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 3 Điều 54; Điều 91; Điều 65, xử phạt bị cáo Vũ Thành Đ với mức án thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề ra và cho bị cáo được hưởng án treo. Ngoài ra không có nội dung tranh tụng nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi và tội danh của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo Vũ Thành Đ, Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 28/9/2024 tại quán nước ở hồ Đ, thành phố P, Vũ Thành Đ đã bàn với Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4, Đ sẽ gọi nhóm của L1 đến và sẽ chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô của nhóm L1 đi. Như đã bàn bạc thống nhất, trên đường anh Việt A chở M, Đ, H2 đến quán X1, H2 có nói nhỏ vào tai Đ “tý nữa cướp xe của chúng nó”, Đ trả lời “ừ” (nghĩa là đồng ý) và không nói gì. Sau khi, anh Việt A chở M, Đ, H2 đến quan X thì H2 nhờ anh Việt A chở H2 đi đón H4 về. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, tại khu vực bãi đất trống khu đất đấu giá thuộc địa phận thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội, khi chỉ có Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 và Phan Việt A thì H2 và H4 đã có hành vi quát mắng làm anh Phan Việt A sợ bị đánh phải xuống xe để chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wavea, sơn màu đen, biển kiểm soát 29Z1-762.79 của Phan Việt A, trị giá 6.000.000 đồng. Ngay khi H2 và H4 điều khiển xe mô tô của Việt A bỏ chạy thì Phan Việt A đã dùng tay nắm vào đuôi xe để giữ xe lại nhưng H2 vẫn tiếp tục tăng ga xe phóng đi kéo theo Việt Anh trên đường khoảng 30m thì Việt A bị tuột tay ngã ra đường xây sát rách da chảy máu. Sau đó, Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 đã điều khiển xe mô tô của Việt A đi đón Vũ Thành Đ ở gần đó rồi bỏ đi. Ngoài ra, không chứng minh được các bị cáo có lần phạm tội và đồng phạm nào khác.

Quá trình điều tra, anh Phan Việt A đã từ chối giám định thương tích với lý do thương tích chỉ là xây sát bên ngoài, không bị thương tích gì lớn và không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét về hành vi cố ý gây thương tích của H2 và H4.

Như vậy hành vi của các bị cáo Vũ Thành Đ, Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 đã phạm tội “Cướp tài sản”, được quy định tại Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015. Điều luật quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.”

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì tội phạm đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Trong vụ án này, mặc dù các bị cáo có sự bàn bàn trước nhưng không có kế hoạch, không phân công cụ thể vị trí, vai trò của từng người khi thực hiện hành vi phạm tội, hành vi phạm tội chỉ là giản đơn, bột phát nên không được coi là có tổ chức. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi do các bị cáo gây ra.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  • - Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, bị cáo Đ có ông nội là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ là người khuyết tật nặng (Giấy xác nhận khuyết tật số 16/02/26/0196 do Ủy ban nhân dân xã N, thành phố P cấp ngày 20/5/2016) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ của người dưới 18 tuổi.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy: hành vi của các bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Xét trong vụ án này bị cáo Đ là người khởi xướng và nói với H2, H4 khi nào nhóm L1 đến sẽ chiếm đoạt chiếc xe mô tô trong nhóm L1 nên bị cáo Đ có vai trò cao nhất trong vụ án này; bị cáo H2 là người giúp sức tích cực cho Đ, đề xuất cho Đ trong việc chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Việt A nên bị cáo H2 có vai trò thứ 2 trong vụ án; bị cáo H4 có vai trò thấp nhất nên chịu mức hình phạt thấp nhất. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xét bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo H2 nên bị cáo Đ và bị cáo H2 phải chịu mức hình phạt ngang nhau và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo thấp hơn mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Các bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác về phần dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về phần dân sự.

[6] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ: 01 đoạn tuýp sắt dài 1,8 m và 01 đoạn tuýp sắt dài 2,1 m là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: các bị cáo Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Vũ Thành Đ là người khuyết tật nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

9] Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện M thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an M, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa các bị cáo phần nào phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, phần nào không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

  • - Tuyên bố các bị cáo Vũ Thành Đ, Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 phạm tội “Cướp tài sản”.

  • - Căn cứ vào KhoảnĐiều 168, Điểms KhoảnKhoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hìnhsự:

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thành Đ 34 (ba mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2025.

  • - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 168, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Quốc H2 34 (ba mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.

  • + Bị cáo Lê Quý H4 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử xem xét.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýp sắt dài 1,8 m và 01 đoạn tuýp sắt dài 2,1 m.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng số 44/GN-CA-THA ngày 09/01/2025 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội).

Các bị cáo Nguyễn Quốc H2, Lê Quý H4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Vũ Thành Đ được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người bào chữa người bị hại, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật về phần có liên quan./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thịnh Quang Trung

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội; VKSNDTPHN;
  • - VKSND huyện Mê Linh;
  • - Công an huyện Mê Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Mê Linh;
  • - Sở TP thành phố Hà Nội;
  • - UBND P. Đồng Xuân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Thịnh Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thành Đ và đồng phạm phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger