|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 12 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải và ông Võ Đình Vang
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: Ông Dương Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Dương Thắng, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1970 tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn D (đã chết) và bà Dương Thị D1 (đã chết); có vợ Dương Thị P và 02 người con (lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 01/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Dương Tiến L; sinh ngày 15 tháng 3 năm 1959 tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn X (đã chết) và bà Dương Thị D2 (đã chết); có vợ Lưu Thị V và 03 người con (lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1990); tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 26/12/2016 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép (đã thi hành). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 01/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trương T; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1960 tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn M (đã chết) và bà Trần Thị N (đã chết); có vợ Dương Thị X1 và 03 người con (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1997); tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Năm 1989, bị Công an huyện B bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” nhưng không xử lý. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 01/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Dương Ngọc T1; sinh ngày 08 tháng 10 năm 1982 tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình N1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C (đã chết); có vợ Nguyễn Thị T2 và 02 người con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 01/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Dương Văn C1; sinh ngày 20 tháng 3 năm 1966 tại B, Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Đảng viên (đã đình chỉ sinh hoạt Đảng); con ông Dương Văn D (đã chết) và bà Dương Thị D1 (đã chết); có vợ Nguyễn Thị H và 03 người con (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1991); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ 04/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Ngọc T1: Ông Trần Văn T3 - Luật sư, Công ty L1 thuộc đoàn Luật sư thành phố H; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 23/10/2024, Dương Văn C1, Dương Tiến L, Dương Ngọc T1 và Phan Văn Đ đến nhà Dương T4 chơi. Tại đây, C1, T1, L, Đ ngồi uống nước tại bàn ở sân trước nhà T4. Lúc này, C1 thấy có 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân ở góc thềm phía trước nhà ông T4. Nên C1 lại lấy 02 bộ bài lại đặt ở trên bàn đã được trải sẵn một chiếc chăn màu hồng. C1 nói "mần ít ván cho vui" tức là rủ Đáng, T1, L đánh bạc thì cả ba đồng ý. Cả nhóm thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm thắng thua bằng tiền Ngân hàng N2. Quá trình đánh bạc, T1 mang theo số tiền 1.380.000 đồng, L mang theo số tiền 2.050.000 đồng, Đ mang theo số tiền 600.000 đồng, C1 mang theo số tiền 730.000 đồng để sử dụng đánh bạc.
Hình thức và tỉ lệ thắng thua được quy định như sau: Trước mỗi ván bài người cầm cái chia mỗi người 09 quân bài, riêng người cầm cái 10 quân bài, còn 15 quân bài để tụ ở giữa bàn, trước mặt cả 04 người chơi. Người chia bài đánh trước theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại, đánh 01 quân bài xuống vị trí mình ngồi. Người bên trái hoặc bên phải nếu không ăn sẽ bốc bài dưới tụ và đánh cho người tiếp theo, cứ bốc và đánh cho đến khi mỗi người chơi đánh đủ 04 quân bài xuống trước mặt thì “hạ phỏm”, nếu không có “phỏm” thì cháy. Khi 04 người chơi “hạ phỏm” đủ thì sẽ tiến hành so sánh điểm, người ít điểm nhất sẽ thắng, những người còn lại sẽ trả tiền cho người về nhất, nếu trường hợp bằng điểm nhau thì ai “hạ phỏm” trước sẽ thắng. Có 03 phỏm thì "ù". Quân bài bị ăn gọi là "gà", quân bài ăn trước khi hạ “phỏm” gọi là “gà chốt”. Người nào không có “phỏm” gọi là “cháy”, phải trả tiền cho người về nhất. Cách tính điểm và “phỏm” như sau: Quân A được tính là 01 điểm, tính theo thứ tự tăng dần các quân bài, mỗi quân bài kế tiếp nhau cách nhau 01 điểm, từ quân A đến quân K là quân cuối cùng, quân K được tính là 13 điểm. “Phỏm” gồm 03 quân hoặc 04 quân bài bằng điểm nhau nhưng khác chất (ví dụ 03 quân A hoặc 04 quân A....); sảnh đồng chất từ 03 quân đến 05 quân bài liên tiếp nhau, sảnh bắt đầu bằng quân A và kết thúc bằng quân K. Nếu người chơi đánh quân bài cho người tiếp theo mà người đó cầm những quân bài còn lại để tạo thành “phỏm” thì sẽ bị ăn “gà”. Trước khi chia bài, người ngồi gần nhất phía tay phải của người chia bài sẽ tiến hành dùng 01 bộ bài khác để chọn ngẫu nhiên 01 quân bài được gọi là “chủ”. Quy định được thua như sau: nhì, ba, chót theo thứ tự đưa cho nhất số tiền 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng; lúc hạ bài người nào ko có “chủ” thì sẽ phải trả tiền “chủ” số tiền 30.000 đồng; người nào có 04 quân “chủ” thì sẽ được những người còn lại trả tiền gấp đôi; “Cháy” 40.000 đồng; “Ù” 50.000 đồng; nếu để cho người khác ăn cả ba con, tức là “Đền” sẽ nộp cho người về nhất số tiền 150.000 đồng, lúc này ăn “gà” không tính tiền, ăn “chốt” 40.000 đồng. Khi đánh, người nào có ván “Ù” hoặc có bốn con “Chủ” thì bỏ 10.000 đồng tiền “Xâu” ở trên bàn đánh bạc để cả nhóm mua nước.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Trương T đến nhà T4 thấy cả nhóm đang đánh bạc, nên ngồi xuống xem cả nhóm chơi. Đến 22 giờ cùng ngày, Đ và C1 nghỉ chơi ra về, khi về cả hai đã thua hết toàn bộ số tiền mang theo để đánh bạc. T và T4 thay vào vị trí của Đ và C1 để tiếp tục đánh bạc cùng L và T1, cách thức và tỉ lệ thắng thua không thay đổi. Quá trình đánh bạc, T mang theo số tiền 1.640.000 đồng, T4 mang theo số tiền 400.000 đồng sử dụng đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang. Tại hiện trường, Cơ quan Công an đã thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc 6.800.000 đồng (Sáu triệu tám trăm nghìn đồng), gồm: 160.000 đồng tiền xâu giữa chiếu bạc; 400.000 đồng tại vị trí của Dương T4; 3.560.000 đồng tại vị trí của Dương Tiến L; 1.640.000 đồng tại vị trí của Trương T; 1.040.000 đồng tại vị trí của Dương Ngọc T1.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và đang tạm giữ các vật chứng, gồm: Số tiền 6.800.000 đồng; 02 bộ bài tulokho (một bộ màu đỏ, một bộ màu xanh) loại 52 quân; 01 chiếc chăn vải màu hồng, kích thước 180 x 80 cm.
Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKSBT ngày 09/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Dương Tiến L từ 18-24 tháng cải tạo không giam giữ
- Xử phạt bị cáo Dương T4, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 từ 15-18 tháng cải tạo không giam giữ
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Tại phiên toà, Người bào chữa cho bị cáo Dương Ngọc T1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt; bị cáo có bố là người có công với cách mạng; quá trình tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Để có điều kiện và cơ hội cải tạo bản thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T1.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.800.000 đồng và tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ (một bộ màu đỏ, một bộ màu xanh) loại, 52 quân; 01 chiếc chăn vải màu hồng, kích thước 180 x 80 cm.
Tại phiên toà, các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 đều khai nhận:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 23/10/2024, tại nhà Dương T4 ở Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình các bị cáo Dương Tiến L, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 và Phan Văn Đ đã cùng nhau đánh bạc bằng hình thức “đánh phỏm”. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ và C1 ra về, T và T4 vào tiếp tục đánh bạc cùng L và T1. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện B phát hiện bắt quả tang, với tổng số tiền trên chiếu bạc là 6.800.000 đồng cùng 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn thống nhất với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, các vật chứng đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Tại thời điểm C1 đánh bạc cùng Đ, L, T1 với số tiền sử dụng vào đánh bạc dưới 5.000.000 đồng chưa đủ cấu thành tội phạm nhưng C1 là người khởi xướng, rủ rê và chuẩn bị 02 bộ bài tú lơ khơ để cả nhóm sử dụng đánh bạc, tạo điều kiện cho L và T1 tiếp tục đánh bạc cùng T và T4. Hành vi đánh bạc của các đối tượng liền kề nhau, không bị ngắt quảng nên hành vi của C1 với vai trò khởi xướng, giúp sức nên đã cấu thành tội phạm. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ, vai trò, vị trí, hậu quả, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo thấy:
Các bị cáo là những người đã có gia đình, đã lớn tuổi, phải nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép sẽ gây ra nhiều tác hại và hệ lụy khác cho xã hội cũng như cho gia đình và chính bản thân các bị cáo nhưng vì coi thường pháp luật nên đã dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để nhằm đấu tranh ngăn chặn triệt để tệ nạn cờ bạc trong toàn xã hội.
Vụ án có 05 bị cáo cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo C1 là người khởi xướng, rủ rê và chuẩn bị công cụ phạm tội, tuy nhiên không phải là đồng phạm có tổ chức mà chỉ đồng phạm giản đơn.
Bị cáo Dương Tiến L đã bị Công an huyện B xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc".
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T4 và bị cáo C1 có bố được tặng Kỷ niệm chương Chiến sỹ Trường Sơn; bị cáo T có bố được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo T1 có bố được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo L có thời gian làm nhiệm vụ quốc tế ở Camphuchia được tặng Bằng khen - Giấy khen của Bộ Q1; bị cáo C1 được tặng Giấy khen trong công tác nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một hình phạt cho các bị cáo theo mức độ và điều kiện mà mỗi bị cáo được hưởng.
Từ những phân tích trên, xét thấy các bị cáo Dương T4, Dương Văn C1, và Dương Tiến L phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, không cần thiết phải cách ly các bị cáo Dương T4, Dương Văn C1, Dương Tiến L ra ngoài xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình và cũng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Dương Ngọc T1, Trương T áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính là cũng đủ nghiêm nhằm răn đe và giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật.
Xét luận cứ bào chữa cho bị cáo Dương Ngọc T1 là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L có thời gian bị bắt tạm giữ sẽ được quy đổi, khấu trừ vào thời gian các bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Xét các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Dương Văn C1 thu nhập không ổn định vì vậy Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo là phù hợp.
Trong vụ án này, các bị cáo sử dụng địa điểm là nhà ở của Dương T4 để đánh bạc. Quá trình các bị cáo đánh bạc, Dương T4 cũng tham gia đánh bạc nhưng không thu lợi từ việc cho các bị cáo đến đánh bạc; không tổ chức cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; không lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc hoặc sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, hoặc sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc. Nên không có căn cứ xử lý đối với Dương T4 về hành vi “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc".
Đối với Phan Văn Đ, thời điểm Đáng đánh bạc cùng C1, L, T1 tổng số tiền liên quan đến việc Đánh bạc là 4.760.000 đồng; Đáng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc; Chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc. Nên hành vi của Phan Văn Đ không cấu thành tội phạm. Công an huyện B đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với Phan Văn Đ theo đúng quy định pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, trong số tiền 6.800.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng để phạm tội đánh bạc; 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếc chăn vải là công cụ mà các bị cáo sử dụng để phạm tội, vì vậy, cần áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếc chăn vải và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.800.000 đồng.
[5] Về án phí: Buộc các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1, Điều 321; Điều 36; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Tiến L 17 (mười bảy) tháng cải tạo không giam giữ được trừ vào thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 01/11/2024 là 08 ngày được quy đổi thành 24 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo là 16 (mười sáu) tháng 06 (sáu) ngày.
Áp dụng khoản 1, Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương T4 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ vào thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 01/11/2024 là 08 ngày được quy đổi thành 24 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo là 14 (mười bốn) tháng 06 (sáu) ngày.
Áp dụng khoản 1, Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn C1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Dương Văn C1 nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cho các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Dương Văn C1.
Giao bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Dương Văn C1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương T, Dương Ngọc T1 mỗi bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Thời gian chấp hành hình phạt tiền kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.800.000 đồng (Sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch tại Kho bạc Nhà nước B, theo Biên lai số 0002563 ngày 22/01/2025.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếc chăn vải màu hồng (có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Dương T4, Dương Tiến L, Trương T, Dương Ngọc T1, Dương Văn C1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan P1 |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về vụ án hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương T cùng đồng phạm khác phạm tội "Đánh bạc"
