Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 20/2025/DS-PT

Ngày 11-3-2025

V/v yêu cầu thực hiện nghĩa vụ

do người chết để lại và kiện đòi

tài sản.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại và kiện đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2024/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình kháng nghị; nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979

    Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị T: Ông Ngô Xuân P, sinh năm 1974 – Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T – Địa chỉ: Số B, phố H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

  2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1946

    Địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    - Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T1: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1961
    2. Chị Trần Thị H, sinh năm 1983
    3. Anh Nguyễn T2, sinh năm 2004
    4. Cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 09/8/2008

    Người đại diện theo pháp luật của cháu Nhật A là chị Trần Thị H ( mẹ đẻ).

    Đều có địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    1. Ông Trần Trung H1, sinh năm 1964

    Địa chỉ: Số F, đường B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng.

  4. Người làm chứng:
    1. Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1997
    2. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.

    3. Anh Hoàng Ngọc D, sinh năm 1990
    4. Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    5. Chị Trần Thị Hồng
    6. Địa chỉ: Cầu M thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    7. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986
    8. Địa chỉ: Tổ dân phố H, Thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng.

    9. Anh Nguyễn Huy H2, sinh năm 1986
    10. Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng.

    11. Anh Phùng Văn C1
    12. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.

    13. Anh Nguyễn Đức V1, sinh năm 1970
    14. Địa chỉ: Số nhà B, đường T, tổ C, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    15. Chị Đào Thị D1, sinh năm 1987
    16. Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

    17. Chị Lưu Thị L1, sinh năm 1989
    18. Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(chị T, ông T1, Luật sư P, anh V1, bà L có mặt; chị H, ông H1, anh T2, cháu Nhật A vắng mặt; những người làm chứng đều vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:

Chị và anh Nguyễn Anh T4 ( con ông T1) quen biết nhau từ khoảng tháng 6/2021, tại thời điểm này chị đang tìm địa điểm xây dựng xưởng để mở công ty may, chị có nói chuyện với anh T4 thì anh T4 bảo chị về làm xưởng trên đất của bố mẹ anh, để anh lấy tiền thuê đất trả nợ. Sau khi bàn bạc thống nhất với anh Nguyễn Đình Đ ( bạn làm ăn với chị Thơ từ trước), chị và anh Đ đã tiến hành xây dựng xưởng trên đất nhà ông T1, từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021 hoàn thành. Toàn bộ kinh phí xây dựng xưởng do chị bỏ ra, khi xây xong mua 45 máy may thì anh Đ có đóng góp số tiền khoảng hơn 100.000.000 đồng để mua máy móc, thiết bị. Đến tháng 10/2022, anh Đ không làm chung với chị nữa, anh Đ đã lấy tại xưởng 01 máy tính và 01 máy viền nên giữa chị và Đ đã chấm dứt việc làm ăn chung và không còn liên quan đến việc kinh doanh với nhau.

Đầu năm 2023, anh T4 không làm việc tại Hà Nội mà về làm lái xe cho chị. Giữa chị và anh T4 chỉ thỏa thuận làm ăn bằng miệng, cụ thể: anh T4 sẽ đóng góp bằng đất của ông T1 để xây dựng nhà xưởng ngoài ra còn thuê thêm phần diện tích đất của bà L và ông H1. Toàn bộ xưởng xây dựng trên đất của ông T1 khoảng 308m², lán xe xây trên đất thuê của bà L, ông H1 là 159,4m².

Sau khi xây dựng xưởng chị đã bỏ tiền mua các thiết bị máy móc gồm: 45 máy may công nghiệp, 03 máy đầm, 01 máy ép ten, 01 máy ép dây, 06 máy bào mài, 02 máy vành đề, 01 máy định hình hậu, 02 máy zoàng, 02 máy viền, 01 máy dập khuy, 03 máy tính may, 01 máy hơi, 04 mắt camera + 01 ổ cứng, dây điện 3 pha vào xưởng, 01 máy tính, 01 máy in, 01 máy chấm công, 01 cây đầu máy, dây điện + ổ cắm + bóng điện + quạt, bàn ghế, 01 tủ lạnh, tủ đựng đồ, sọt hàng, xoong nồi + đồ dùng cá nhân để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc hoạt động của xưởng hoàn toàn do chị là người trực tiếp quản lý điều hành. Ngày 21/8/2023, anh T4 chết toàn bộ nhà xưởng và các thiết bị máy móc trong nhà xưởng do ông Tiếp quản L2. Nay chị khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 phải trả lại chị các tài sản, cụ thể:

- Đối với nhà xưởng, nguyên vật liệu gồm công xây dựng, đá bây, cát san lấp, gạch cát xi măng, bê tông, sắt hộp làm khung cột, mái tôn, công thợ dựng xưởng.

- Các thiết bị máy móc tại nhà xưởng gồm: 45 máy may công nghiệp; 03 máy đầm; 01 máy ép tan; 01 máy ép dây; 04 máy bào mài; 02 máy vành đề; 01 máy định hình hậu; 02 máy zoàng; 02 máy viền; 01 máy dập khuy; 03 máy tính may; 01 máy hơi; 04 mắt camera + 01 ổ cứng; dây điện 3 pha vào xưởng; 01 máy tính; 01 máy in; 01 máy chấm công; 01 cây đầu máy; dây điện + ổ cắm + bóng điện + quạt; bàn ghế; 01 tủ lạnh; tủ đựng đồ; sọt hàng; xoong nồi + đồ dùng cá nhân.

- Yêu cầu ông T1 trả cho chị 1.500.000.000 đồng là tiền anh Nguyễn Anh T4 đã vay chị theo giấy giao nhận tiền ngày 16/5/2023, đến ngày 24/4/2024 chị rút yêu cầu.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Ông có biết việc chị T làm chung với con trai ông là anh Nguyễn Anh T4, tuy nhiên ông không nhất trí với lời khai của chị T cho rằng toàn bộ kinh phí xây dựng nhà xưởng và mua thiết bị máy móc trong xưởng là do chị T bỏ ra vì trong quá trình xây dựng nhà xưởng ông là người trực tiếp đi thuê thợ để xây và là người trực tiếp trả tiền công thợ, vật liệu xây dựng làm mái tôn; khi mua thiết bị máy móc trong xưởng ông cũng là người đưa tiền cho anh T4 đi mua cùng chị T. Nguồn tiền là do gia đình ông được bồi thường giải phóng mặt bằng đất nông nghiệp là 192.000.000 đồng, tiền vợ chồng ông tiết kiệm là 90.000.000 đồng, tiền ông bán đất ao là 250.000.000 đồng, tiền vay Quỹ tín dụng nhân dân xã Quỳnh Hưng là 600.000.000 đồng - anh T4 là người mượn giấy tờ đất của ông để vay Quỹ tín dụng để lấy tiền xây dựng nhà xưởng. Số tiền xây dựng nhà xưởng là 453.671.146 đồng và tiền mua máy móc thiết bị là 670.000.000 đồng, tổng là 1.123.671.146 đồng. Ngoài ra, trong giấy phép đăng ký kinh doanh hộ cá thể thì chỉ có một mình con trai ông là Nguyễn Anh T4 đứng tên không liên quan gì đến chị T.

Đối với việc chị T yêu cầu ông trả lại thiết bị máy móc: Ông yêu cầu chị T phải chứng minh các hóa đơn chứng từ mua máy móc thiết bị, ngoài ra chị T yêu cầu số lượng máy móc thiết bị ghi trong đơn khởi kiện là không đúng số lượng, chúng loại, cụ thể: Trong vật tư nhà xưởng không có máy xúc, toàn tiền công thợ xây xưởng, thợ dựng xưởng là của ông, ông đã có xác nhận gửi Tòa án. Về số lượng máy móc thiết bị hiện trong xưởng có 67 chứ không phải như chị T trình bày là 63 máy, chị T còn không biết có bao nhiêu loại máy móc, thiết bị cụ thể đặc điểm như thế nào nên việc việc T đòi tài sản là không có căn cứ.

Nay ông đồng ý trả lại toàn bộ nhà xưởng máy móc thiết bị trong xưởng nhưng ông yêu cầu chị T phải thanh toán cho ông các khoản sau:

  • 240.000.000 đồng là tiền anh T4 góp vốn lưu động.
  • 170.000.000 đồng tiền thuê mặt bằng mà anh Đ đã trả tiền thuê mặt bằng cho ông hiện chị T đang quản lý.
  • Tiền thuê mặt bằng của ông từ tháng 01/2022 đến tháng 8/2023 tổng là 141.600.000 đồng số tiền này ông chịu ½ và chị T phải chịu ½ bằng 70.800.000 đồng và trả lại cho ông.

Đối với việc chị T rút yêu cầu ông phải trả 1.500.000.000 đồng ông không có ý kiến gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L và ông Trần Trung H1 trình bày:

ngày 14/12/2021, chị T và và anh T4 ký hợp đồng thuê 159,4m² đất của bà và ông H1 thời hạn thuê là 05 năm từ 01/12/2021 đến 30/12/2026 giá thuê mỗi năm là 24.000.000 đồng và đã trả cho bà và ông H1 2 năm 2022 và 2023 còn lại chưa trả cho bà, bà yêu cầu chị T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê cho bà và ông H1.

Tại bản án số 16/2024/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 183, 205, 206, khoản 1 Điều 221, 222, 274, 279 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ Điều 12, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Xử: 1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T buộc ông Nguyễn Văn T1 phải có nghĩa vụ trả lại các tài sản cho bà Nguyễn Thị T, gồm: 04 mắt Camera và dây điện ba pha; 01 máy chấm công ZKT TEK102 khuôn mặt và vân tay + phần mềm; 01 máy tính hiệu Asus H110; 01 máy in 2900; 02 ổ điện; dây điện - 8m; dây mạng - 25m; 02 phích đực; ổ điện lioa 6 lỗ 3; 01 cái; 01 át 3 pha 200A LS; 03 máy đầm; 01 máy ép ten; 01 máy ép dây; 04 máy bào mài; 02 máy ép vành đề; 01 máy định hình hậu; 02 máy zoàng; 02 máy viền; 01 máy dập khuy; 42 máy may công nghiệp và 03 máy zich zắc.

1.2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T buộc ông Nguyễn Văn T1 và những người thừa kề quyền, nghĩa vụ của anh Nguyễn Anh T4 phải trả số tiền 1.500.000.000 đồng.

1.3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T1 buộc bà Nguyễn Thị T phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn T1 tiền thuê mặt bằng từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2023 là 26.458.668 đồng.

- Ngày 11/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ ban hành kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS đối với Bản án nêu trên với nội dung: Tòa án vi phạm trong việc xem xét đưa người vào tham gia tố tụng: chị T khai có hợp tác sản xuất kinh doanh mũi giầy với anh Nguyễn Thành Đ1 nhưng Toà án không đưa anh Đ1 vào tham gia tố tụng để xem xanh Đ1 còn quyền lợi gì không là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đ1.

Vi phạm trong việc xác minh thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ: quá trình giải quyết ông T1 không hợp tác nên không thể tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và không tiến hành định giá được để xác định được tài sản thực tế có số lượng và giá trị bao nhiêu, HĐXX quyết định buộc ông T1 trả lại cho chị T số lượng máy móc như phần quyết định của bản án là không có cơ sở.

Vi phạm trong việc không quyết định giải quyết hết các yêu cầu của đương sự. Do vậy đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

- Ngày 04/9/2024 chị T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông T1 phải trả lại toàn bộ nhà xưởng.

- Ngày 11/9/2024 ông T1 kháng cáo toàn bộ bản án.

Ngày 20/9/2024 Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ nhận được đơn kháng cáo của bà Trần Thị L với nội dung buộc chị T phải trả số tiền thuê đất còn lại trong 3 năm.

Tại Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 02/2024/QĐ-PT ngày 11/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình đã không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bà Trần Thị L.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm:

chị T giao nộp bổ sung tài liệu, gồm: 01 giấy xác nhận đề ngày 20/02/2025 của chị Trần Thị H3, địa chỉ A, Quỳnh P1 với nội dung chị T có trả 258.524.000 đồng vật liệu xây dựng; 01 giấy xác nhận của anh Hoàng Ngọc D ngày 20/02/2025, địa chỉ T, A, Quỳnh P1 với nội dung chị T là người trả tiền thuê hàn dựng nhà xưởng; 01 Giấy xác nhận đề ngày 22/01/2025 của anh Trần Minh T5, địa chỉ: Tài G, Q, Q với nội dung chị T mua vật liệu xây dựng tổng số tiền là 74.960.000 đồng, đã trả 70.000.000 đồng; 01 Giấy xác nhận đề ngày 03/10/2024 mang tên Phạm Thị N, không có địa chỉ với nội dung chị T đã mua bê tông số tiền là 36 triệu đồng; 01 Giấy xác nhận đề ngày 3/10/2024 của anh Trần Viết Ú với nội dung anh có nhận của chị T 10 triệu đồng công thợ xây.

Ngày 05/3/2025 chị T giao nộp Hợp đồng thuê nhà xưởng ngày 01/02/2022.

Ông T1 giao nộp toàn bộ các hóa đơn về việc xây dựng xưởng, các hóa đơn đều thể hiện người mua hàng là anh T4, cụ thể:

  • Vật liệu xây dựng, mua tại cửa hàng T8 ( T- Q), từ tháng 10-tháng12/2021, tổng số tiền 74.801.000 đồng, các hoá đơn đều ghi người mua anh T4;
  • Hoá đơn mua bê tông tại cửa hàngTuấn Thuý ( Cầu nghìn, V, Hải Phòng), số tiền: 32.805.000 đồng, người mua là anh T4.
  • Hoá đơn vật tư cơ khí Hồng H4 ( địa chỉ V, A, Q ), người mua khách hàng là anh T4. Tổng số tiền 279.607.146 đồng.
  • Hoá đơn điện nước cửa hàng H6 30.974.239 đồng, đã trả 10 triệu đồng.
  • C2 làm các công việc khác gồm nhiều thợ thi công 56.150.000 đồng.

Lý do tại cấp phúc thẩm ông T1 mới giao nộp các tài liệu trên vì theo ông chị T đưa ra yêu cầu phải giao nộp chứng cứ chứng minh, nên ở cấp sơ thẩm ông chỉ kê khai các khoản đã chi vào việc xây dựng xưởng, không giao nộp hóa đơn. Ông cũng không cho Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ vì trong các giấy báo đều ghi theo yêu cầu của chị T, mà đây không phải là tài sản của chị T.

Anh Nguyễn Đình Đ xác định việc anh và chị T góp vốn đã tự giải quyết xong, không liên quan đến việc chị T đang khởi kiện nên anh từ chối tham gia tố tụng.

Quỹ tín dụng nhân dân Q, huyện Q trình bày: ngày 28/3/2022 vợ chồng ông T1- bà T6 có thế chấp toàn bộ thửa đất 34 tờ bản đồ số 28 tại thôn M, xã Q, huyện Q và các tài sản trên đất để bảo đảm cho khoản vay 600 triệu đồng của anh T4- chị H tại quỹ tín dụng. Theo nội dung hợp đồng là vay về mở xưởng may giầy và trên thực tế tại thời điểm giải ngân xưởng cũng đang làm. Sau đó ông T1 và chị H đã tất toán khoản vay trên và tiếp tục thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để vay 550 triệu đồng vào ngày 17/10/2024. Quan điểm của Quỹ tín dụng việc chị T khởi kiện tranh chấp nhà xưởng không liên quan đến quỹ tín dụng vì với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và nhà mái bằng của vợ chồng ông T1 đã đủ để đảm bảo khoản vay nên Quỹ tín dụng không có yêu cầu gì và từ chối tham gia tố tụng trong vụ án.

Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/02/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình thể hiện:

Trong xưởng có 41: máy may công nghiệp + 01 máy ép nhỏ, 01 máy ép tan, 01 máy ép dây, 04 máy bào mài, 03 máy lập trình may, 06 máy zoang, 02 máy viền, 03 máy dập khuy, 01 máy vắt sổ, 03 máy đầm, 01 máy hơi, 01 máy chấm công, 05 mắt camera, 17 quạt treo tường.

Trong phòng điều hành: 01 quạt treo tường, 01 máy tính, 01 máy in, 01 điều hoà, 01 tủ lạnh, 01 ghế xoay, 01 bàn làm việc, 01 két sắt.

Trong lán xe có: 01 máy hơi

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Chị T trình bày: ngày 01/02/2022 chị và anh Nguyễn Đình Đ có ký hợp đồng thuê nhà xưởng với anh T4 như chị đã giao nộp cho Toà án.

Chị nhất trí với quyết định của Toà án sơ thẩm tuyên buộc ông T1 phải trả lại cho chị các máy móc trong xưởng. Ông T1 là người nhận vật liệu nên có các hoá đơn để giao nộp, còn chị là người liên hệ mua và trả tiền. Đối với hóa đơn mua vật liệu tại cửa hàng C3 ghi mua từ ngày 01/01/2022 đến ngày 17/6/2022 không mâu thuẫn với thời gian hoàn thành xưởng ( tháng 12/2021) vì sau đó chị còn mua thêm để hoàn thiện xưởng và làm các giá để hàng. Chị yêu cầu được tháo dỡ toàn bộ nhà xưởng xây trên đất của ông T1, đối với lán xe và 01 máy hơi ở trên đất bà L chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông T1 trình bày: toàn bộ nhà xưởng là do ông T1 và anh T4 bỏ tiền ra xây dựng, nguồn tiền làm nhà xưởng như ông đã trình bày tại cấp sơ thẩm, chính vì vậy các hoá đơn đều ghi người mua hàng là anh T4. Lý do chị T trực tiếp điều hành hoạt động của xưởng vì anh T4 không có kinh nghiệp trong lĩnh vực may giầy nên có nhờ chị T, còn việc giữa chị T và anh T4 thoả thuận như thế nào ông không biết. Lý do ông không xuất trình được các hoá đơn mua máy móc trong xưởng là vì anh T4 mua về xưởng của mình thì không cần hoá đơn. Các hoá đơn mua máy móc chị T xuất trình không hợp lý, có hợp đồng mua máy tính từ năm 2012, có một số máy móc trong xưởng không đúng như chị T yêu cầu và quyết định trong bản án.

Anh Nguyễn Văn V -người đại diện theo uỷ quyền của ông T1 cho rằng chị T giao nộp các tài liệu liên quan đến việc mua máy móc nhưng không thể hiện đặc điểm của từng loại máy, số seri, màu sắc việc này còn liên quan đến chế độ bảo hành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của chị T.

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng nghị của VKS nhân dân huyện Q và một phần kháng cáo của ông T1 sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Kháng nghị của VKSND huyện Quỳnh Phụ được ban hành trong thời hạn; kháng cáo của chị Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 làm trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Đối với kháng nghị của VKS nhân dân huyện Q về việc không đưa anh Nguyễn Đình Đ vào tham gia tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm anh Đ có văn bản trình bày không liên quan đến việc góp vốn với chị T nên xác định anh Đ chỉ là người làm chứng trong vụ án.

[3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị H, anh Nguyễn T2 vắng mặt đã uỷ quyền cho ông T1; ông H1 vắng mặt đã uỷ quyền cho bà L, căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

[4] Về xác định quan hệ tranh chấp: chị T yêu cầu ông T1 trả 1.500.000.000 đồng do anh T4 vay và trả toàn bộ nhà xưởng, máy móc hiện ông T1 đang quản lý. Anh T4 chết trước khi chị T khởi kiện nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại và kiện đòi tài sản”.

[5] Về yêu cầu khởi kiện của chị T:

[ 5.1] Đối với yêu cầu được tháo dỡ toàn bộ nhà xưởng:

- Về vật liệu xây dựng: tài liệu hai bên giao nộp có sự mâu thuẫn cùng là người bán vật liệu xây dựng nhưng ngày 10/9/2023 anh Trần Minh T5 xác nhận đã nhận của anh T4 70 triệu đồng và kèm theo các hoá đơn đều ghi khách hàng là anh T4. Ngày 21/01/2025 anh T5 xác nhận đã nhận của chị T 70 triệu đồng.

-Về tiền công xây dựng: tại giai đoạn sơ thẩm ông T1 giao nộp giấy biên nhận đề ngày 27/12/2021 âm lịch ( BL 213-214) có bốn người làm gồm Trần Đăng Đ2, Vũ Tiến K, Nguyễn Thị T7 và anh Đào Hồng L3. Tại cấp phúc thẩm chị T giao Giấy xác nhận đề ngày 3/10/2024 của anh Trần Viết Ú thanh toán tiền công là 10 triệu đồng.

-Về vật liệu dựng nhà xưởng: Chị T khai việc xây dựng xưởng hoàn thành vào tháng 12/2021, và cung cấp 02 hoá đơn: từ ngày 03/12/2021 đến ngày 06/01/2022 là 217.208.566 đồng và từ 01/01/2022 đến ngày 17/6/2022 là 43.140.000 đồng, như vậy tài liệu chị T giao nộp mâu thuẫn với lời khai của chị T về thời điểm hoàn thành việc xây dựng xưởng.

Ông T1 giao nộp các hoá đơn mua tại của hàng vật tư cơ khí Hồ N số tiền 279.607.146 đồng, người mua hàng là anh T4.

-Về tiền công dựng xưởng: tại bản tự khai ngày 13/5/2024 anh Hoàng Ngọc D ( BL 184) xác nhận công dựng xưởng 40 triệu đồng do chị T thanh toán song tại giấy xác nhận đề ngày 01/01/2022 (BL 217) ghi đã nhận của ông T1 40 triệu đồng.

-Về tiền bê tông: chị T giao nộp giấy xác nhận của chị Phạm Thị N không có địa chỉ cụ thể, ông T1 giao nộp các hoá đơn giao nhận bê tông trong tháng 12/2021 đều ghi khách hàng là anh T4.

-Về chi phí lắp đặt điện nước: chị T không giao nộp tài liệu, ông T1 giao nộp các hoá đơn với tổng số tiền 30.974.239 đồng, đã trả 10 triệu đồng.

Ngày 01/02/2022 bên A là anh Nguyễn Đình Đ, chị Nguyễn Thị T, bên B là anh Nguyễn Anh T4 có làm Hợp đồng thuê nhà xưởng với nội dung: bên B cho bên A thuê nhà xưởng với diện tích tổng là 550m² tại xóm G thôn M, xã Q, huyện Q với số tiền là 35.000 đồng/ m². Nhà xưởng gồm có thiết bị điện ba pha, nhà vệ sinh, văn phòng ( không gồm tài sản máy móc trong xưởng). Hôm nay ngày 01/02/2022 gồm có hai bên quyết định thành lập hợp đồng thuê nhà xưởng này có 01 bản gốc. Lần 1 trả tiền thuê từ ngày 01/2/2022 đến ngày 07/02/2022 là 115.500.000 đồng; trả lần 2 trả tiền thuê từ ngày 1/7/2022 đến ngày 1/2/2023 là 115.500.000 đồng. Như vậy căn cứ vào nội dung trong hợp đồng trên thấy chị T không phải là người bỏ tiền ra xây dựng nhà xưởng mà là thuê của anh T4, chứng cứ do chị T giao nộp phù hợp với các hoá đơn do ông T1 cung cấp đều thể hiện người mua hàng là anh T4, Hợp đồng vay tại Quỹ tín dụng nhân dân Q, Giấy chứng nhận hộ kinh doanh. Do đó Toà án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về việc buộc ông T1 trả toàn bộ nhà xưởng là có căn cứ. Đối với lán xe và 01 máy hơi ở trên đất thuê của bà L, ông H1 chị T không yêu cầu nên không xem xét.

[5.2] Đối với yêu cầu trả toàn bộ các máy móc trong xưởng: chị T xuất trình giấy xác nhận và hoá đơn mua bán như sau:

  • Mua của anh Phùng Văn C1: máy đầm (03), máy ép ten (01), máy ép dây ( 01), máy bào mài ( 04), máy ép vành đề (02), máy định hình hậu (01), máy zoang ( 02), máy viền (02) máy dập khuy ( 01);
  • Mua của anh Nguyễn Văn T3 ngày 29/01/2022: 42 máy may công nghiệp, 02 máy zic zac.
  • Mua của anh Nguyễn Duy H5 ( K, T, K, Hải Phòng) ngày 19/3/2023 02 máy lập trình, máy Phombrothe hiệu SXK 2210 + Mit shubishi SXK 3520 và ngày 28/3/2012 01 máy may vi tính.
  • Mua của anh Vũ Văn V2: điện ba pha (1), camera (1).
  • Mua của anh Nguyễn Đức V1: máy chấm công (01), máy tính ( 01 bộ), máy in (01), ổ điện, dây điện. Ông T1 không xuất trình được các hoá đơn mua máy móc trong xưởng. Căn cứ vào hợp đồng thuê nhà xưởng, các tài liệu do chị T xuất trình có căn cứ xác định chị T là người mua máy móc. Do đó Toà án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về việc buộc ông T1 phải trả máy móc là có căn cứ. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, trong xưởng chỉ có 41 máy may công nghiệp; không có các loại máy sau: 02 máy vành đề, 01 máy định hình hậu, 03 máy zich zắc, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T đối với các loại máy này.

[6] Xét các yêu cầu của ông Nguyễn Văn T1:

[6.1] Yêu cầu chị T trả 240.000.000 đồng là tiền anh T4 góp vốn lưu động: ông T1 không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc góp vốn này mà cho rằng thấy trong quyển sổ của chị T ghi chép lại nên không có cơ sở chấp nhận.

[6.2] Đối với 170.000.000 đồng tiền thuê mặt bằng mà anh Đ đã trả, theo giấy biên nhận ngày 01/2/2022 anh T4 là người nhận tiền của anh Đ nên không chấp nhận yêu cầu này của ông T1.

[6.3] Đối với yêu cầu chị T trả tiền thuê mặt bằng của ông từ tháng 01/2022 đến tháng 8/2023 tổng là 141.600.000 đồng số tiền này ông chịu ½ nên chị T phải trả cho ông ½ bằng 70.800.000 đồng: theo chị T khai và hợp đồng thuê nhà xưởng do chị giao nộp, anh T4 là người đứng ra cho thuê, tuy nhiên toàn bộ nhà xưởng được xây dựng trên thửa đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông T1 và hiện nay anh T4 đã chết nên ông T1 có quyền yêu cầu.

Theo hợp đồng thuê nhà xưởng ngày 01/02/2022 và giấy biên nhận do hai bên giao nộp thì chị T đã thanh toán tiền thuê xưởng đến tháng 02/2023. Ông T1 chỉ yêu cầu thanh toán tiền thuê mặt bằng ( tiền thuê đất) nên Toà án không căn cứ vào giá trong hợp đồng thuê xưởng mà căn cứ vào giá thuê đất ở cùng vị trí, thời điểm giữa ông H1 bà L với anh T4 chị T để giải quyết: 24.000.000 đồng/12 tháng = 2.000.000 đồng/1 tháng : 159,4m² = 12.547 đồng/1m²/ tháng. Ông T1 yêu cầu chị T thanh toán với giá 20.000 đồng/1m² với lý do đất nhà ông phải san lấp, việc ông T1 phải san lấp mặt bằng trước khi xây nhà xưởng không liên quan đến giá thuê vì đây là thuê mặt bằng, khi hết hạn thuê thì phần san lấp vẫn thuộc quyền sử dụng của bên cho thuê.

Về thời gian thuê còn phải thanh toán: từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023 là 7 tháng: 12.547 đồng x 354m² x 12 tháng = 52.917.336 đồng : 2 = 15.545.733 đồng. Đối với tiền thuê nhà xưởng ông T1 không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của chị T không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Kháng cáo của ông T1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị T.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự chấp nhận một phần kháng nghị của VKSND huyện Quỳnh Phụ, một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, khoản 1 Điều 221, 222, 274, 275, 279, 481 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ Điều 12, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn T1 và những người thừa kề quyền, nghĩa vụ của anh Nguyễn Anh T4 phải trả số tiền 1.500.000.000 đồng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn T1 phải trả cho chị Nguyễn Thị T các tài sản sau: 04 mắt Camera và dây điện ba pha, 01 máy chấm công ZKT TEK102 khuôn mặt và vân tay + phần mềm, 01 máy tính hiệu Asus H110, 01 máy in 2900, 02 ổ điện, dây điện - 8m; dây mạng - 25m, 02 phích đực, ổ điện lioa 6 lỗ 3, 01 át 3 pha 200A LS, 03 máy đầm, 01 máy ép ten, 01 máy ép dây, 04 máy bào mài, 02 máy zoàng, 02 máy viền, 01 máy dập khung, 41 máy may công nghiệp.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn T1 phải trả toàn bộ nhà xưởng xây trên thửa đất số 34 tờ bản đồ số 28 tại thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
  4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T1 buộc chị Nguyễn Thị T phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn T1 tiền thuê mặt bằng từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023 là 15.545.733 ( mười năm triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
  5. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T1 về việc buộc chị T trả 240.000.000 đồng là tiền anh T4 góp vốn lưu động và 170.000.000 đồng tiền thuê mặt bằng mà anh Đ đã trả.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị T phải chịu 777.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 33.500.000 đồng theo biên lai số 0004615 ngày 30/01/2024 và biên lai số 0004533 ngày 02/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Trả lại chị Nguyễn Thị T số tiền 32.723.000 đồng.

    Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn T1.

  7. Về án phí phúc thẩm: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004811 ngày 12/9/2024 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

    Ông Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

8. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 11/3/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND h. Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại và kiện đòi tài sản.

  • Số bản án: 20/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại và kiện đòi tài sản.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 20/2025/DS-PT ngày 11/3/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger