Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN SƠN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST.

Ngày 11 - 3 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Vinh và bà Lộc Thị Kim Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, kết nối giữa điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam công an tỉnh T. Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST - HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Vũ Hồng Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14/11/1986 tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Vũ Quang V (đã chết) và bà Phạm Thị T; có vợ Nguyễn Thanh X và 02 con.

* Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

2. Ngô Văn T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11/12/1981 tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Ngô Văn P và bà Nguyễn Thị Q1; có vợ Lê Thị Đan P1 và 01 con.

* Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân: - Quyết định số 144 ngày 01/4/2008 của Công an huyện H xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc (chưa nộp phạt, đã hết thời hiệu).

- Bản án số 53/2014/HSST ngày 30/12/2014 của TAND huyện Hàm Yên xử phạt 04 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 thángvề tội Đánh bạc, phạt tiền 1.000.000 đồng sung quỹ nhà nước (đã chấp hành xong).

- Bản án số 43/2017/HSPT ngày 12/9/2017 của TAND tỉnh Tuyên Quang đình chỉ xét xử phúc thẩm, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 22/2017/HSST ngày 26/5/2017 của TAND huyện Chiêm Hóa xử phạt 05 tháng tù giam về tội Đánh bạc, phạt tiền 3.000.000 đồng (đã chấp hành xong).

- Bản án số 02/2021/HSST ngày 28/01/2021 của TAND huyện Hàm Yên xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng về tội Đánh bạc, phạt tiền 10.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước (đã chấp hành 28/3/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

3. Nguyễn Thị Y (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/3/2003 tại tỉnh Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm L, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 06/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn M và bà Hoàng Thị N; có chồng Bùi Mạnh T2 (đã ly hôn) và 01 con.

* Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 2001 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang
  • - Anh Nguyễn Vinh H, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • - Anh Lâm Văn T3, sinh năm 1975 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/6/2024, gia đình anh Nguyễn Vinh H ở tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y tổ chức ăn cơm trong đó có Vũ Hồng Q; Ngô Văn T1 và Trần Đình Đ. Sau khi ăn, uống xong trong lúc ngồi ở bàn uống nước Đại nói với Q và T1 “Có ba đứa em ở nơi khác đến, anh em chơi đồ mỗi người một đứa”, ý của Đ “Chơi đồ” là rủ Q và T1 cùng nhau sử dụng ma túy. Sau khi dọn dẹp xong H đến bàn uống nước ngồi thì T1 trả nợ cho H số tiền 4.000.000 đồng mà T1 đã vay trước đó, rồi đi ra phía bếp nhà H mua cho Q số tiền 1.500.000 đồng và bảo Q đi lấy ít đồ để chơi, ý bảo Q đi mua ma túy về cùng sử dụng. Q hiểu ý và cầm tiền T1 đưa rồi ra đường đi nhờ xe mô tô của người qua đường xuống khu vực đầu cầu K thuộc thị trấn Y, huyện Y tìm mua ma túy. Khi đến nơi Q gặp và mua được của một người đàn ông (không biết tên và địa chỉ) 02 gói ma túy loại Ketamin với giá 1.000.000 đồng và 01 gói ma túy MDMA với giá 500.000 đồng (03 gói ma túy đều có rãnh khứa và đường viền màu đỏ). Q cầm 03 gói ma túy trở về nhà trọ Hiền thuê của ông Lâm Văn T3 tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y cho Q ở và để 03 gói ma túy lên trên nóc tủ lạnh cạnh giường trong phòng ngủ của Q.

Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, T1 và Đ sang nhà trọ của Q. Q vào trong phòng ngủ trải đệm, bật nhạc, bật đèn và lấy đĩa để ở gầm giường để mọi người cùng sử dụng ma túy. Khi Đ và T1 đi vào trong phòng, Đ nói với Q “Ba đứa kia không đến em gọi nhân viên lên”, nghe vậy Q đi ra ngoài phòng khách để gọi điện thì gặp H sang bảo Q nghỉ sớm để mai đi chợ hàng cho H, sau đó H đi về nhà mình; Q gọi điện rủ Nguyễn Thị Y, sinh năm 2003, trú tại xóm L, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình đến nhà trọ của Q chơi, Y đồng ý và rủ thêm Nguyễn Thị N1, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố T, thị trấn Y, huyện Y đi cùng. Khi vào phòng ngủ của Q, T1 thấy trên nóc tủ lạnh có 03 túi ma túy, T1 cầm gói ma túy loại MDMA lấy một ít cho vào miệng rồi uống nước để nuốt ma túy vào cơ thể. Sau khi gọi điện thoại cho Y xong Q vào phòng lấy một nửa viên ma túy MDMA để trên nóc tủ lạnh ra sử dụng. Đ lấy một gói ma túy Ketamin đó ra đĩa. Q lấy 01 thẻ nhựa màu cam (loại thẻ của đồ thời trang) đưa cho Đại để xào K. Q lấy tờ tiền 10.000đ trong túi quần của mình ra đưa cho T1 để cuộn làm ống hút; T1 bảo Q bé hãy đặt loại thuốc lá rút phần bông ra rồi cho vào hai đầu tờ tiền tạo thành ống hút. Sau khi xào, chia ma túy Ketamin xong, Đ đưa cho T1 để sử dụng, T1 sử dụng 02 đường bằng cách dùng ống hút hít ma túy từ đĩa vào mũi, rồi đưa cho Đ, Đ sử dụng xong đưa cho Q nhưng Q chưa sử dụng do sợ bị nôn, Đ sử dụng ống hút hít hết hai đường ma túy Ketamin còn lại trên đĩa.

Nguyễn Thị Y và Nguyễn Thị N1 thuê xe taxi đến và gọi Q ra mở cửa, khi vào trong phòng Đ đưa cho Y gói ma túy MDMA, Y cầm nhưng không sử dụng và để lên nóc tủ lạnh, sau đó Y nhìn thấy trong gầm giường có 01 đĩa thủy tinh có chứa ma túy Ketamin và 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền 10.000đ cùng với một thẻ màu cam. Y xác định đó là ma túy K nên cầm đĩa ma túy lên, dùng thẻ nhựa kẻ (chia) ma túy ra thành nhiều đường nhỏ rồi lần lượt đưa cho Đ, Q sử dụng, Đ đưa cho T1 và N1 sử dụng nhưng cả hai không sử dụng. Y là người sử dụng cuối cùng rồi cất đĩa vào gầm giường. Khoảng một lúc sau, Đ tiếp tục lấy gói ma túy Ketamin còn lại để ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa xào lượt mới, khi xào xong Đ là người sử dụng đầu tiên, tiếp đến Q, T1, Y và N1 sử dụng. Đến khoảng 01 giờ ngày 10/6/2024 Đ đi về nhà mình, Q, T1, Y và N1 tiếp tục sử dụng ma túy tại nhà trọ của Q. Hồi 01 giờ 20 phút ngày 10/6/2024, khi Q, T1, Y và N1 đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an thị trấn Y, huyện Y kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời thu giữ tang vật theo quy định.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N1 đều có kết quả (+) Dương tính với chất ma túy (có chất ma tuý trong cơ thể).

Tại kết luận giám định số 811/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số chất tinh thể màu trắng thu giữ trong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,284g (Không phẩy hai tám bốn gam). Số chất bột vón cục màu xám có trong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,983g (Không phẩy chín tám ba gam).

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSYS ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1 và Nguyễn Thị Y về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1 và Nguyễn Thị Y phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với 03 bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Y.

Xử phạt: Vũ Hồng Q từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.

Xử phạt: Ngô Văn T1 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.

Xử phạt: Nguyễn Thị Y từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: Số ma túy, đĩa thủy tinh, thẻ nhựa đã thu giữ. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 đèn nhãn hiệu Laser; 01 loa nhãn hiệu Harman Kardon và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ cuộn tròn. Trả lại cho các bị cáo điện thoại di động nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm được trở về với gia đình và hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục thừa nhận hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Đêm ngày 09, rạng sáng ngày 10/6/2024, tại nhà trọ (nơi ở) của Vũ Hồng Q (thuê của ông Lâm Văn T3) thuộc tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang: Ngô Văn T1 đã có hành vi đưa cho Vũ Hồng Q số tiền 1.500.000 đồng để mua ma túy; Vũ Hồng Q là người trực tiếp đi mua 1.000.000 đồng Ketamine và 500.000 đồng MDMA, sử dụng chỗ ở của mình, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, gọi điện cho Y, N1 đến phòng trọ cùng với các bị cáo Ngô Văn T1, Nguyễn Thị Y và Trần Đình Đ sử dụng trái phép chất ma túy bằng cách hít vào cơ thể; Nguyễn Thị Y và Trần Đình Đ có hành vi xào K (xào Ke), kẻ chia ma túy thành nhiều đường nhỏ để bản thân và người khác cùng sử dụng trái phép. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1 và Nguyễn Thị Y về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, sức khỏe của bản thân gia đình các bị cáo mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn của xã hội; làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình. Hành vi đó đi ngược lại với chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo được thể hiện như sau: Bị cáo Q là người trực tiếp đi mua ma túy, gọi điện rủ bị cáo Y, chuẩn bị công cụ, chỗ ở của mình để các bị cáo sử dụng ma túy. Bị cáo T1 là người đưa tiền cho Q đi mua ma túy nên xác định vai trò hai bị cáo ngang nhau và cao hơn Y.

Bị cáo Y là người trực tiếp cùng Đ thực hiện hành vi “xào ke” đưa cho các bị cáo còn lại để cùng sử dụng ma túy nên bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho cả 03 bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thị Y có bố đẻ được tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[5] Về mức án Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy còn lại sau khi đã giám định thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành, đĩa thủy tinh, thẻ nhựa cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 03 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.

- Đối với các vật chứng còn lại như: Đèn, loa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ cuộn tròn mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1, Nguyễn Thị Y và Nguyễn Thị N1: Ngày 17/6/2024 Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53, 54, 55 và 56 bằng hình thức phạt Cảnh cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với Trần Đình Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập nhiều lần nhưng Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến nay chưa xác định được bị can đang ở đâu. Ngày 05/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định tách vụ án hình sự số 07 để truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý theo quy định.

- Đối với khối lượng 0,284g Ketamin và 0,983g MDMA, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được trong quá trình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang: Quá trình điều tra xác định khi Q, T1, Y và N1 đang tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị bắt quả tang, nên số ma tuý trên bị thu giữ theo quy định, do đó không xem xét xử lý về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy Ketamine và chất ma túy MDMA cho Vũ Hồng Q vào ngày 09/6/2024 tại khu vực đầu K, thị trấn Y, huyện Y: Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

- Đối với Nguyễn Thị N1 là người cùng sử dụng trái phép chất ma túy với các bị cáo. Tuy nhiên N1 không có hành vi bàn bạc, giúp sức, chuẩn bị công cụ để cùng sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý.

- Đối với anh Lâm Văn T3 là chủ nhà trọ cho anh Nguyễn Vinh H thuê nhà để cho bị cáo Q ở, anh T3 và anh H không biết gì về việc các bị cáo sử dụng chỗ ở trên để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1, Nguyễn Thị Y phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với 03 bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Y.

- Xử phạt: Vũ Hồng Q 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.

- Xử phạt: Ngô Văn T1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.

- Xử phạt: Nguyễn Thị Y 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 đèn nhãn hiệu LASER SHOW SYSTEM MP7979.V10, màu đen; 01 loa nhãn hiệu Harman Kardon, màu đen xám và 01 ống hút được làm bằng tờ tiền ngân hàng N2 mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, ngoài có lớp giấy màu vàng.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên mép dán có chữ ký của Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1, Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N1 và thành phần tham gia niêm phong cùng 05 hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T, mặt trước bì ghi Tang vật vụ Vũ Hồng Q, giám định ngày 10/6/2024; 01 đĩa thủy tinh không màu, đường kính 25 cm; 01 thẻ nhựa màu cam có in chữ HERMES PARRIS, kích thước 4,3x8,5cm.
  • - Trả lại cho bị cáo Vũ Hồng Q 01 điện thoại di động được đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên mép dán có chữ ký của Vũ Hồng Q, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 (năm) hình dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T. Mặt trước bì ghi “Điện thoại thu giữ của Vũ Hồng Q”. Bên trong bì có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, vỏ màu vàng, loại màn hình cảm ứng, số IMEL 35 0141781579311, số IMEL2: 35 01417170450 5; Bên trong máy có lắp sim V1 có số thuê bao 0928691986, trên thẻ sim in các dãy số 8984 048000902351181. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.
  • - Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T1 01 điện thoại di động được đựng trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên mép dán có chữ ký của Ngô Văn T1, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 hình dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T. Mặt trước bì ghi “Điện thoại thu giữ của Ngô Văn T1". Bên trong bì có 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S21 5G vỏ màu xanh, loại màn hình cảm ứng, số IMEL 355320542428134, bên trong máy có lắp sim thẻ Viettel có số thuê bao 0975505066, trên thẻ sim in các dãy số 89840 48000 31962 4458. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Y 01 điện thoại di động được đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Y, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 (năm) hình dấu của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T. “Mặt trước bì ghi điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị Y". Bên trong bì có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus vỏ màu vàng, loại màn hình cảm ứng, số IMEL: 35917307 7655464; bên trong máy lắp thẻ sim Vianphone có số thuê bao 0832367294, trên thẻ sim có in dãy số 98940200010813743465. Điện thoại cũ đã qua sử dụng nhưng giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn lập ngày 28/02/2025).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo: Vũ Hồng Q, Ngô Văn T1 và Nguyễn Thị Y mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (11/3/2025); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Yên Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T.Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS + Toà án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vu Hong Q cùng đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger