|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 11 tháng 3 năm 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước và ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Anh Đ, sinh ngày 06/7/1995. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh A.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Đinh Thị P (có mặt).
Người làm chứng: Bà Võ Thị Tuyết M (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23/9/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại quán “T" thuộc khóm P, thị trấn P, huyện T có nhiều đối tượng nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thị trấn P phối hợp cùng Công an huyện T tiến hành kiểm tra hành chính. Tại thời điểm kiểm tra trong căn chòi Số 1 của quán “Tuyết Minh” (hướng từ cửa đi vào) có Lê Anh Đ, Nguyễn Thị Mỹ H1 đang sử dụng ma túy. Thu giữ, bộ D sử dụng ma túy (gồm chai nhựa trong suốt, bên ngoài có dán băng keo màu đen, nắp chai màu đỏ được khoét hai lổ tròn, trên nắp chai có gắn đoạn ống thủy tinh, một đầu có bầu tròn) bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; trong túi quần của Đ một bọc nylon trong suốt, hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; cạnh vị trí Đ ngồi, phát hiện trong mũ bảo hiểm có bọc nylon trong suốt, hàn kín, bên ngoài có dán băng keo màu vàng và bọc nylon trong suốt, hàn kín, một đầu có rãnh khóa màu trắng, viền màu đỏ bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng. Tại đây, Đ, H1 khai nhận 03 bọc nylon thu giữ bên trong có chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, Đ tàng trữ để sử dụng nên lực lượng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan.
Quá trình điều tra Lê Anh Đ khai: Đ và Nguyễn Thị Mỹ H1 là những người nghiện ma tuý. Đ nhiều lần mua ma túy và tổ chức cho Nguyễn Thị Mỹ H1 sử dụng ma túy. Cụ thể:
Lần 1: Khoảng 12 giờ ngày 21/9/2024, Đ sử dụng sim điện thoại số 0877.201.xxx gọi vào điện thoại của người thanh niên tên L (không rõ nhân thân, không nhớ sim số), đặt mua 300.000 đồng ma túy đá, thì L hẹn địa điểm giao, nhận ma túy ở khu vực cầu P, thuộc khóm P, thị trấn P, huyện T, Đ trả tiền nhận ma túy đem về Đ rủ H1 đến quán nước “Tuyết Minh” sử dụng ma túy. H1 đồng ý, cả hai đến căn chòi Số 1 của quán, Đ chế tạo bộ dụng cụ và lấy 01 phần ma túy vừa mua được cho vào ống thủy tinh, đốt lửa cùng sử dụng với H1. Riêng, phần ma túy còn lại, Đ lấy băng keo màu vàng quắn quanh bọc ma túy và cất giấu bên trong vách thiết của chòi quán.
Lần thứ 2: Khoảng 12 giờ ngày 22/9/2024, Đ tiếp tục rủ H1 đến căn chòi Số 1 quán “T” tiếp tục sử dụng ma túy; tại đây, Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy trước đó, bên trong ống thủy tinh còn chứa một ít ma túy, ra đốt lửa cùng H1 sử dụng hết số ma túy này. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ tiếp tục đặt mua 1.500.000 đồng ma túy đá của người tên L, rồi đến cầu P nhận ma túy và trả tiền. Sau đó, Đ đến nhà nghỉ “Anh Đào” tại khóm P, thị trấn P gặp Đinh Thị P (quản lý nhà nghỉ) thuê phòng số 203, để sử dụng ma túy với H1. Tại đây, Đ lấy ra một phần ma túy từ bọc ma túy vừa mua được, bỏ vào bộ dụng cụ đốt lửa cùng H1 sử dụng hết.
Lần thứ 3: Khoảng 08 giờ ngày 23/9/2024, Đ tiếp tục mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy trước đó, bên trong còn một ít ma túy đá đến nhà nghỉ “Anh Đào” thuê phòng 203 Đ cùng H1 sử dụng hết số ma túy này thì Đ tiếp tục lấy xe mô tô biển số 64M1-687.86 điều khiển chở H1 đến căn chòi số 1 tại quán “T”, Đ lấy một phần ma túy từ bọc ma túy mua vào ngày 22/9/2024 cất giấu tại đây, cho vào bọc nylon một đầu có rãnh khóa màu trắng viền đỏ, rồi dùng băng keo màu vàng quấn quanh bọc ma túy, cất giấu bên trong nón bảo hiểm của H1 nhưng không cho H1 biết; đồng thời Đ lấy một phần ma túy từ bọc ma túy còn lại cho vào bộ dụng cụ sử dụng thì bị bắt quả tang như nội dung vụ án đã nêu.
Trong các lần tổ chức sử dụng ma túy tại nhà nghỉ “Anh Đào” và tại quán nước “Tuyết Minh” do P, Võ Thị Tuyết M quản lý thì Đ không cho P, M biết.
Ngày 01/10/2024, Đ bị khởi tố, điều tra.
Kết luận giám định số 1367/KL-KTHS ngày 28/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận:
Mẫu M₁ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 4.0084g; mẫu M₂ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0.7573g; mẫu M₃ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0.9923g; mẫu M₄ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0.1368g
Kết luận giám định số 1377/KL-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận:
Mẫu M₁, M₂ (mẫu nước tiểu của Đ, H1) gửi đến giám định có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu M₁, M₂ đã sử dụng hết sau khi giám định.
Kết luận giám định số 1575/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng K- Công an tỉnh A, ghi nhận:
Không tiến hành giám định trích xuất dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định.
* Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 23/9/2024 của Công an thị trấn P, ghi nhận: Lê Anh Đ, Nguyễn Thị Mỹ H1 dương tính với Methamphetamine. (Bút lục số 19A - 19B).
Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Mỹ H1, Đinh Thị P (quản lý nhà nghỉ A); Võ Thị Tuyết M (chủ quán Tuyết M) trình bày như nội dung vụ án đã nêu.
Nguyễn Ngọc T cho biết: Xe mô tô biển số 67M1-687.86, do T đứng tên sở hữu, ngày 23/9/2024, Đ mượn xe làm phương tiện đi lại, T không biết Đ sử dụng xe để đi mua ma túy, T xin nhận lại xe.
Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 chai nhựa trong suốt, bên ngoài có dán băng keo màu đen, nắp chai màu đỏ được khoét hai lổ tròn, trên nắp chai có gắn đoạn ống thủy tinh, một đầu có bầu tròn; bật lửa tự chế; cây kéo bằng kim loại, màu trắng; đoạn ống hút nhựa, trong suốt, sọc trắng; mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có chữ “CKC CHUN KUA”; xe mô tô biển số 67M1-687.86 màu trắng, số máy: JA39E-M62770; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSTS, ngày 26/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Lê Anh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249, điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 67M1-687.86, do ông T đứng tên sở hữu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm g khoản 2 Điều 249 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Anh Đ mức án từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 15 (mười lăm) năm đến 17 (mười bảy) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Mỹ H1, người làm chứng bà Võ Thị Tuyết M vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Ngày 23/9/2024, tại quán C thuộc khu vực khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang bị cáo Lê Anh Đ đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0.1368g Methamphetamine dùng để tổ chức sử dụng ma túy và 5.758g Methamphetamine để tiếp tục sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Ngoài ra, bị cáo Lê Anh Đ đã nhiều lần tổ chức cho Nguyễn Thị Mỹ H1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ A1, quán C thuộc khu vực khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.
Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Lê Anh Đ đã thành niên nhận thức được rằng tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện, mặt khác bị cáo còn tổ chức cho Nguyễn Thị Mỹ H1 sử dụng trái phép chất ma túy, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật; hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội, do đó việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng: Không có.
[6] Tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra đã thu giữ được các vật chứng, cần phân hóa ra để xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và tài sản liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh là của bị cáo Lê Anh Đ dùng để nghe gọi, qua kiểm tra không có nội dung liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 67M1-687.86 màu trắng, số máy: JA39E-M62770 là tài sản của ông Nguyễn Ngọc T. Ông T không biết việc Đ dùng xe mô tô đi mua ma túy, yêu cầu được nhận lại xe nên cần trả lại xe cho ông T.
- Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có chữ “CKC CHUN KUA” là tài sản của bà Nguyễn Thị Mỹ H1. Bà H1 không biết việc Đ để ma túy vào trong nón, nên cần trả lại nón bảo hiểm cho H1.
[8] Đối với, thanh niên tên L bán ma túy cho Lê Anh Đ, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Nguyễn Thị Mỹ H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có văn bản đề nghị Công an thị trấn P lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính Hường là có căn cứ.
[9] Riêng, hành vi tàng trữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Đ, nhận thấy nhân thân Đ không có tiền án, tiền sự, tàng trữ bộ dụng cụ nhằm mục đích tổ chức sử dụng trái phép ma túy và việc tàng trữ bộ dụng cụ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý Đ về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
[10] Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Anh Đ phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Anh Đ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giam (ngày 23/9/2024).
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
- 04 phong bì được niêm phong bên trong có các mẫu vật còn lại sau khi đã giám định; 01 (một) chai nhựa trong suốt, bên ngoài có dán băng keo màu đen, nắp chai màu đỏ được khoét hai lổ tròn, trên nắp chai có gắn đoạn ống thủy tinh, một đầu có bầu tròn; 01 (một) bật lửa tự chế để đốt ma túy; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa, trong suốt, sọc trắng (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho bị cáo Lê Anh Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho ông Nguyễn Ngọc T 01 (một) xe mô tô biển số 67M1-687.86 màu trắng, số máy: JA39E-M62770 (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có chữ “CKC CHUN KUA” (đã qua sử dụng).
(Đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 02/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Anh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã N đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA [Ký tên] |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Tuyên bố bị cáo Lê Anh Đạt phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
