Hệ thống pháp luật

TOÀN ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 07/3/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Văn Ngữ

Các hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Quang Vinh

Ông Nguyễn Văn Thanh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Cường - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.

Đại diện VKSND Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Phùng Anh T - Kiểm sát viên.

Ngày 07/3/2025, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/HSST ngày 13/02/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn H, sinh năm 1983; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 6/12; Con ông Phan Văn H1 và bà Nguyễn Thị N; Có vợ là Nguyễn Thị T1 và có 03 con.

Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992; trú tại thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

Người làm chứng:

  1. Ông Hoàng Văn T2 - Giám đốc quỹ tín dụng nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Duy X - Cán bộ tư pháp UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)
  3. Ông Hà Văn T3 - Phó chủ tịch UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  4. Bà Hoàng Thị Phương T4 – Nơi làm việc: Quỹ tín dụng nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, hành vi của bị cáo được tóm tắt như sau:

Năm 1992, ông Phan Văn H1 sinh năm 1957, trú tại thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B306559 đối với thửa đất số 231, tờ bản đồ số 12, diện tích 657,0m2 trong đó có 360m2 đất ở nông thôn và 297,0m2 đất vườn, địa chỉ tại thôn H (nay là thôn Đ), xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 14/02/2023, ông H1 làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên và được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 340261, đối với thửa đất số 157, tờ bản đồ số 60, diện tích 652,0m2 trong đó có 360m2 đất ở nông thôn và 292,2m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Sau khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H1 đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L tách thửa đất nêu trên thành thửa 167 và thửa 168.

Ngày 26/6/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 123068, đối với thửa đất số 167, có tích 343,5m2, (trong đó có 200,0m2 đất ở nông thôn, 143,5m2 đất trồng cây lâu năm) và số DM 123069, đối với thửa đất số 168, diện tích 308,7m2 (trong đó có 160,0m2 đất ở nông thôn, 148,7m2 đất trồng cây lâu năm) chủ sử dụng đất là ông Phan Văn H1.

Sau khi nhận 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên ông H1 mang về nhà đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 123068, đối với thửa đất số 167 cho con trai là Phan Văn H sinh năm 1983 quản lý, đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 123069, đối với thửa đất số 168 cho con gái là chị Phan Thị H2 sinh năm 1982 quản lý.

Đến khoảng tháng 02/2024, ông H1 lên Uỷ ban nhân dân (UBND) xã A gặp cán bộ địa chính để hỏi trình tự, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, tuy nhiên do Luật đất đai có sự điều chỉnh, thay đổi nên ông H1 dừng việc làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đợi khi nào Luật thay đổi xong mới tiếp tục làm.

Khoảng đầu tháng 8/2023, H có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài và cần tiền để làm thủ tục, khi đó ông H1 chưa làm thủ tục sang tên, chuyển quyền sử dụng đất cho H nên H đã lên mạng xã hội Facebook tìm cách làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 167, tờ bản đồ 60 từ ông H1 sang cho H để H vay vốn. Sau đó, H được giới thiệu và kết bạn zalo với một người tên “Doãn Chí B” và nhờ người này sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông H1 sang cho H với giá thỏa thuận là 6.000.000 đồng/1 sổ, đặt cọc trước 300.000đồng, khoảng 5 ngày sau sẽ nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thanh toán số tiền còn lại. H đồng ý và dùng số tài khoản 0982227017 tại Ngân hàng TMCP Q của mình chuyển vào số tài khoản 109873125867 tại Ngân hàng TMCP C mang tên NGUYEN PHUOC DUC. Sau đó, H chụp căn cước công dân của H, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên ông Phan Văn H1 để B làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên H. Khoảng 05 ngày sau, H được một nam thanh niên là nhân viên giao hàng (H không biết tên, tuổi, địa chỉ và không nhớ tên đơn vị giao hàng) giao cho 01 kiện hàng, Hạnh kiểm T5 thấy bên trong là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV370118, đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 60, diện tích 343,5m2, trong đó có 200,0m2 đất ở nông thôn, 143,5m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chủ sử dụng đất là Phan Văn H. H đã thanh toán số tiền còn lại là 5.700.000 đồng cho nhân viên giao hàng trên bằng tiền mặt. Sau đó, H cất giấy chứng nhận số BV370118 trên trong tủ cùng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 123068 mang tên Phan Văn H1.

Cuối tháng 9/2024, H nhận được thông báo các thủ tục để xuất khẩu lao động đi nước ngoài đã xong và cần phải nộp số tiền 200.000.000 đồng nên H sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV370118 trên đến Quỹ tín dụng nhân dân A để làm thủ tục vay số tiền 200.000.000 đồng. Ngày 01/10/2024, H cùng vợ là Nguyễn Thị T1 cùng ông Hoàng Văn T2 (giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân A) đến UBND xã A để chứng thực hợp đồng vay vốn, chứng thực bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV370118 mang tên Phan Văn H.

Khi chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thì H có cung cấp bản gốc để ông Nguyễn Duy X là cán bộ Tư Pháp kiểm tra, đối chiếu và trình ông Hà Văn T3, Phó chủ tịch UBND xã A ký chứng thực bản sao đúng với bản chính. Sau đó, H mang hồ sơ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Phan Văn H đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L làm thủ tục yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Sau khi kiểm tra, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà H sử dụng có dấu hiệu được làm giả nên đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L để tiến hành điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT, Công an huyện L thu giữ: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV370118, đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 60, địa chỉ thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chủ sử dụng đất là Phan Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu tím, số IMEI 1: 864394059225351, IMEI 2: 864394059225344, trong điện thoại nắp sim số: 0982.227.xxx, cũ đã qua sử dụng.

Ngày 22/10/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 1493/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định các giấy tờ, tài liệu đã tạm giữ trong vụ việc trên. Ngày 01 tháng 11 năm 2024 Phòng K Công an tỉnh B có bản kết luận giám định số 2319/KL-KTHS, kết luận:

- Phôi, hình dấu tròn trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BV 370118 gửi giám định (ký hiệu A) là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.

- Chữ ký mang tên Phạm Vũ Đ dưới mục “Giám đốc” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BV 370118 gửi giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Phạm Vũ Đ trên tài liệu mẫu (ký hiệu M3) là không phải do cùng một người ký ra.”

Tại bản cáo trạng số 24/KSĐT ngày 12/02/2025 của VKSND huyện Lạng Giang đã truy tố Phan Văn H về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKSND huyện Lạng Giang giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 6 đến 8 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng; miễn phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị giải quyết về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để trở thành công dân tốt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của VKS, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1].Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng tại phiên tòa không có lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án. Sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Về hành vi của bị cáo:

Khoảng cuối tháng 8/2023, Phan Văn H đã cung cấp thông tin cho đối tượng không quen biết trên mạng xã hội để làm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV370118, đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 60, diện tích 343,5m2, (trong đó có 200,0m2 đất ở nông thôn, 143,5m2 đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do UBND huyện L cấp ngày 26/6/2023 mang tên Phan Văn H. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đặt mua trên mạng, bị cáo H đem thế chấp vay vốn của Quỹ tín dụng nhân dân An H3 lấy tiền nộp để đi xuất khẩu lao động. Căn cứ vào kết luận giám định số 2319/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh B thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là giả.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, tòa phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và kết luận giám định. HĐXX thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Văn H phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng của VKSND huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hình phạt mà vị đại diện VKS đề nghị là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, HĐXX thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5]. Về hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có cơ nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX cho bị cáo hưởng án treo cũng có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân chấp hành pháp luật. Đồng thời HĐXX miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[6]. Đối tượng sử dụng tài khoản zalo mang tên “Doãn Chí B” để trao đổi và làm giấy chứng nhận sử dụng đất giả cho Phan Văn H, do không xác định được thông tin, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện L không có đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với Nguyễn Phước Đ1, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, Đ1 khai không đăng ký và sử dụng số tài khoản ngân hàng số [...], mang tên NGUYEN PHUOC DUC mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C (V) nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Thị T1 (vợ của Phan Văn H), và các ông Hoàng Văn T2, Hoàng Thị Phương T4, Nguyễn Duy X, Hà Văn T3 không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả. Vì vậy, những người này không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[7]. Về vật chứng: Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV370118, thuộc thửa đất số 167, tờ bản đồ số 60, địa chỉ thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chủ sử dụng đất là Phan Văn H là giấy tờ giả nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu tím, số IMEI 1: 864394059225351, IMEI 2: 864394059225344, trong điện thoại nắp sim số: 0982.227.xxx, là phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí HSST theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Phan Văn H 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, thời gian thử thách 1 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phan Văn H cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã tuyên.

  2. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV370118, thuộc thửa đất số 167, tờ bản đồ số 60, địa chỉ thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chủ sử dụng đất Phan Văn H.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu tím, số IMEI 1: 864394059225351, IMEI 2: 864394059225344, trong điện thoại nắp sim số: 0982.227.xxx.
  3. Về án phí HSST: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Phan Văn H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh.
  • - VKSND huyện Lạng Giang.
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Giang.
  • - THADS huyện Lạng Giang.
  • - Sở Tư pháp tỉnh BG
  • - UBND xã An Hà, huyện Lạng Giang
  • - Bị cáo, người bị hại, người liên quan.
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Ngữ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG về sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn H sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để làm hồ sơ vay vốn Ngân hàng thì bị phát hiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger