Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 06 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trí; Ông Nguyễn Thanh Liêm

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ, ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Thị D, sinh năm 1952; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị M; chồng là Bùi Thanh S và có 01 người con; tiền án: không, tiền sự: Ngày 10/4/2020, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép được thua bằng tiền”, đã nộp phạt; Bị cáo D bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/8/2024 cho đến nay (có mặt);
  2. Nguyễn Văn H1 (Huỳnh Văn H2, T), sinh năm 1966; nơi sinh: thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Thị H3; vợ là Võ Thị Thu V và có 02 người con; tiền án: không, tiền sự: Ngày 08/02/2020, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép được thua bằng tiền”, đã nộp phạt; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến ngày 07/10/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị T2, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Bà Phan Thị T3, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị C, sinh năm1965; địa chỉ: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

- Người làm chứng:

Bà Võ Thị N, sinh năm 1966; (vắng mặt)

Bà Võ Thị Thu V, sinh năm 1968; (vắng mặt)

Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1965 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 14/7/2020, nhận được tin báo của người dân, Công an xã L, huyện C kiểm tra, phát hiện Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1, Lê Thị T2, Phan Thị T3, Nguyễn Thị C đánh bạc bằng hình thức chơi bài binh sáu lá được thua bằng tiền tại khu vực vườn chuối thuộc ấp L, xã L nên tiến hành lập biên bản mời tất cả về trụ sở làm việc. Trong đó, Đoàn Thị D và Nguyễn Văn H1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn tiếp tục vi phạm nên H1, D bị khởi tố để điều tra.

Vật chứng thu giữ: Trên chiếu bạc 300.000 đồng, 02 bộ bài tây 52 lá, 01 chiếc chiếu; thu giữ của Dĩa 2.115.000 đồng dùng đánh bạc, của C 200.000 đồng dùng đánh bạc, của Tha 166.000 đồng dùng đánh bạc; thu giữ của T2 7.470.000 đồng không dùng đánh bạc, của H1 3.800.000 đồng không dùng đánh bạc.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị T2, Nguyễn Thị T5, Phan Thị C1; người làm chứng Võ Thị N, Võ Thị Thu V, Nguyễn Văn T4 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Tại Cáo trạng số 124/CT-VKSCM ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố các bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1 vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, o khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đoàn Thị D từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng; 02 bộ bài tây đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 300.000đ thu trên chiếu bạc; 2.115.000đ của bị cáo D, 200.000đ của Nguyễn Thị C, 166.000₫ của Phan Thị T3 đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H1 3.800.000đ; Lê Thị T2 7.470.000đ là tiền không dùng đánh bạc.

Sau khi nghe quan điểm luận tội của Kiểm sát viên các bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1 nhất trí với bản luận tội; nói lời sau cùng bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, không khiếu nại các chứng cứ được thu thập. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị T2, Nguyễn Thị T5, Phan Thị C1; người làm chứng Võ Thị N, Võ Thị Thu V, Nguyễn Văn Thanh vắng M1, xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1 khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng về toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, các tình tiết khác của vụ án; phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường cùng tang vật thu giữ. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 10/4/2020, Đoàn Thị D bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép được thua bằng tiền”, đã nộp phạt; Ngày 08/02/2020, Nguyễn Văn H1 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép được thua bằng tiền”, đã nộp phạt. Bị cáo D, bị cáo H1 trong khi chưa được xóa tiền sự về hành vi đánh bạc thì ngày 14/7/2020, tại khu vực thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang các bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1 cùng với Lê Thị T2, Nguyễn Thị T5, Phan Thị C1 tham gia chơi bài binh sáu lá ăn thua bằng tiền với số tiền thì bị phát hiện và thu giữ trên chiếu bạc số tiền 300.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng; các bị cáo đánh bạc ăn thua bằng tiền thông qua hình thức đánh bài binh 06 lá, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo D, H1 là người trưởng thành, khỏe mạnh, đủ khả năng nhận thức hành vi bản thân; các bị cáo biết hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng bất chấp và cố ý thực hiện với ý thức mong muốn hậu quả xảy ra. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự xã hội được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất an trong nhân dân trước tình hình các tội phạm xâm phạm đến trật tự công cộng diễn ra ngày càng nhiều như hiện nay.

Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo thấy rằng: đây chỉ là hình thức đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, không có sự phân công vai trò thực hiện hành vi. Do đó, các bị cáo cùng chịu trách nhiệm chung theo quy định trên cơ sở tính chất và mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo D, H1 không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện được sự ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được xem xét khi quyết định hình phạt cho các bị cáo; đối với bị cáo D khi phạm tội đã 72 tuổi, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định nên có xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết quy định tại điểm i, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 20215.

Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến tội phạm cũng có một phần là do bị cáo vì ham lợi, vì muốn kiếm tiền nhanh nên đã thực hiện hành vi phạm tội; đối với bị cáo H1 bản thân bị cáo đã từng chấp hành án về tội cướp tài sản tuy đã được xóa an tích nhưng lại tiếp tục phạm tội nên xem bị cáo là người có nhân thân xấu, do đó cần buộc bị cáo H1 phải chấp hành hình phạt tù một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Riêng, bị cáo D tuy bị cáo là người làm cái trực tiếp ăn thu với các con bạc, tuy nhiên thấy bị cáo là người lớn tuổi, bản thân không có tiền án; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa đã thể hiện sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, xét thấy, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào nếu không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo D được hưởng án treo nhưng phải chịu sự giám sát của địa phương trong thời gian chấp hành án.

Đối với T2, T5, C1 tham gia đánh bạc trái phép, nhưng chưa đủ định lượng và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, nên Cơ quan điều tra không khởi tố, chuyển xử lý hành chính. Tòa án cũng đã có văn bản yêu cầu Viện kiểm sát làm rõ số tiền các bị cáo và người liên quan khai không dùng vào việc đánh bạc nhưng chỉ đối chất giữa T2 với Dĩa ngày 28/02/2025. Do đó, cần kiến nghị Viện kiểm sát làm rõ đối với Nguyễn Văn H1 khai 3.800.000 đồng là tiền cá nhân không sử dụng vào việc đánh bạc. Đối với Lê Thị T2 khai số tiền 7.470.000 đồng là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc nhưng Lê Thị T2 đang tham gia đánh bạc và khi đặt 10.000đ chưa biết ăn thua thì bị bắt quả tang. Trường hợp, có đủ cơ sở xác định được số tiền nêu trên dùng vào việc đánh bạc thì cần phải xử lý theo quy định pháp luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, bản thân không nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra huyện C có thu giữ vật chứng và chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới: 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng; 02 bộ bài tây đã qua sử dụng đây là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 2.115.000đ thu của bị cáo D, 200.000đ thu của Nguyễn Thị C, 166.000đ thu của Phan Thị T3 là tiền bị D, C, T3 khai dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước cùng với 300.000đ tiền thu trên chiếu bạc. Riêng số tiền 3.800.000₫ của bị cáo H1, số tiền 7.470.000đ của Lê Thị T2 không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho H1, T2 số tiền này.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 08 (tám) tháng tù, khấu trừ cho bị cáo 01 ngày bị tạm giam (06/10/2024); thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, o khoản 1 Điều 51; Điều 65, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đoàn Thị D 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (06/3/2025). Giao bị cáo Đoàn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng; 02 bộ bài tây đã qua sử dụng. (Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 24/01/2025)

Tịch thu sung quỹ sung quỹ Nhà nước: Số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc và 2.481.000 đồng (hai triệu bốn trăm tám mươi mốt nghìn đồng) của các bị cáo và người liên quan dùng đánh bạc gồm: Đoàn Thị D số tiền 2.115.000 đồng; Nguyễn Thị C số tiền 200.000 đồng; Phan Thị T3 số tiền 166.000 đồng.Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H1 số tiền 3.800.000₫ (ba triệu tám trăm nghìn đồng); Lê Thị T2 7.470.000đ (bảy triệu bốn trăm bảy chục nghìn đồng). (Theo giấy nộp tiền mặt ngày 25/10/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị Nguyễn Văn H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đoàn Thị D là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí hình sự sở thẩm nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Công an huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Phương Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Thị D, Nguyễn Văn H bị truy tố về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger