Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-PT

Ngày 11-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;

Ông Nguyễn Hữu Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Trầm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 03/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Thị Trà M, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 280/2024/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thị Trà M, sinh năm 1990 tại tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: tổ C, khu phố E, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Thôn E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L và bà Danh Thị Diễm H, bị cáo có chồng tên Phạm Hoàng T (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2024 cho đến nay, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, Bùi Thị Trà M kết hôn với ông Phạm Hoàng T. Năm 2022, ông T có nhận chuyển nhượng thửa đất số 3559, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương với số tiền là 1.500.000.000 đồng, nhưng ông T cho M đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591 cấp ngày 08/8/2022.

Năm 2023, M và ông T cần tiền để trả nợ nên ông T đã ký thủ tục ủy quyền cho M để M thuận tiện trong việc chuyển nhượng thửa đất số 3559, tờ bản đồ số 9 cho người khác. Do cần tiền gấp nên M đến gặp bà Trần Thị Ánh T1 nhờ cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591 để vay số tiền 300.000.000 đồng. Bà T1 giới thiệu M đến gặp ông Huỳnh Hải Đ để vay tiền thì ông Đ đồng ý. Ông Đ yêu cầu M phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để làm tài sản đảm bảo. Ngày 12/7/2023, M và ông Đ đến Văn phòng C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ. Sau đó, ông Đ nhờ bà T1 chuyển số tiền 300.000.000 đồng vào tài khoản của ông T. M không nói cho ông T biết số tiền đó là tiền vay mà nói là tiền nhận đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 3559, tờ bản đồ số 9. Ông T lấy số tiền 60.000.000 đồng trả tiền lãi và 117.000.000 đồng mua đồ trang sức cá nhân, số tiền còn lại ông T và M tiêu xài hết.

Sau đó, M tự ý đăng thông tin cần chuyển nhượng thửa đất số 3559, tờ bản đồ số 9 thì ông Ngô Văn H1 đồng ý nhận chuyển nhượng với giá 1.150.000.000 đồng. Ngày 27/7/2023, M và ông Đ cùng ký hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó, M ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho ông H1. Tiền có được, M trả lại số tiền 300.000.000 đồng cho ông Đ, số tiền còn lại bị cáo M tiêu xài hết nhưng không cho ông T biết.

Đến ngày công chứng, ông T hỏi M về việc chuyển nhượng đất, M nói mẹ của người mua đất mất nên người mua đất phải về quê chịu tang khoảng 20 ngày. Thời gian sau đó, ông T tiếp tục hỏi thì bà M nói người mua đất đã bỏ cọc nhưng thực ra M đã chuyển nhượng thửa đất số 3559, tờ bản đồ số 9 cho ông H1 mà không nói cho ông T biết việc chuyển nhượng. Ông T yêu cầu M đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T giữ nhưng M cứ hẹn. Do đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H1 và tiêu xài hết tiền nên M nảy sinh ý định đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591 để đưa cho ông T. M sử dụng điện thoại di động đăng nhập vào mạng xã hội có thông tin nhận làm các loại giấy tờ giả rồi M để lại tài khoản zalo “Trà My” để liên hệ. Khoảng 03 ngày sau, tài khoản zalo tên “K” kết bạn với tài khoản zalo của M và giới thiệu có thể làm giả các loại giấy tờ. My gửi hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng số DG811591 nhờ “Khang” làm giả thì “K” đồng ý và báo giá làm giả là 6.000.000 đồng. M đồng ý và gửi địa chỉ cho “K”. Khoảng 03 ngày sau, 01 người giao hàng đã đến giao cho M 01 gói hàng và yêu cầu thanh toán số tiền 6.000.000 đồng. Sau đó, M đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cất vào tủ và báo cho ông T biết rồi xóa tài khoản zalo tên “K”. Đối với điện thoại di động sử dụng liên lạc với “Khang” đã bị hư hỏng nên M vứt bỏ, không thu hồi được.

Do bà M từng lừa của ông T rất nhiều tiền, ngày 25/3/2024, ông T lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591 cấp ngày 08/8/2022 ra Văn phòng công chứng Nguyễn Văn L1 để hủy bỏ ủy quyền với M thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591 là giả nên ông T nhờ nhân viên Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Lúp báo Công an phường C. Lúc này, ông Phạm Hoàng T mới biết thửa đất số 3559, tờ bản đồ số 9 đã được Bùi Thị Trà M chuyển nhượng cho ông Ngô Văn H1. Vụ việc được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận giám định số 1878/KL-KTHS(TL) ngày 14/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG811591, mang tên “Bùi Thị Trà M”, sinh năm 1990, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: Phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương (số vào sổ cấp GCN: CS20610) đề ngày 18/8/2022 (ký hiệu là A) là giả.

Phôi, hình dấu tròn có nội dung “*CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM* TỈNH BÌNH DƯƠNG - SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” và hình dấu tên “Bạch Thanh T2” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

Chữ ký mang tên “Bạch Thanh Trọng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Bạch Thanh T2 trên “Biên bản làm việc về việc: Thu mẫu chữ ký và mẫu mộc tên” đề ngày 04/4/2024 (ký hiệu M) không phải do cùng một người ký ra.

Tại Cáo trạng số 302/CT-VKSBC ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo Bùi Thị Trà M về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 280/2024/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, đã quyết định:

Về trách nhiệm hình sự: căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Trà M phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thị Trà M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, bị cáo Bùi Thị Trà M kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Thị Trà M kháng cáo xin hưởng án treo.

Về thời hạn kháng cáo đúng thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung: Bị cáo Bùi Thị Trà M được chồng là ông Phạm Hoàng T ủy quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591. Ngày 27/7/2023, bị cáo M đã chuyển nhượng thửa đất này nhưng không báo cho ông T biết. Đầu tháng 10/2023, bị cáo M đã có hành vi đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591 đứng tên Bùi Thị Trà M nhằm mục đích để ông T không phát hiện việc bị cáo M đã chuyển nhượng thửa đất cho người khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đủ điều kiện để được hưởng án treo.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Trà M, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 280/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo hướng cho bị cáo Bùi Thị Trà M được hưởng án treo, xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm.

Bị cáo không ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo chăm sóc và nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, do đó có cơ sở xác định: để có tiền tiêu xài, bị cáo Bùi Thị Trà M đã có hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 3559, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG811591 cấp ngày 18/8/2022) là tài sản chung của bị cáo M và ông Phạm Hoàng T và lấy tiền tiêu xài hết. Đầu tháng 10/2023, Bùi Thị Trà M đã có hành vi đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG811591 đứng tên Bùi Thị Trà M mục đích để ông T không phát hiện việc M đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác.

Tại Kết luận giám định số 1878/KL-KTHS(TL) ngày 14/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG811591, mang tên “Bùi Thị Trà M”, sinh năm 1990, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: Phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương (số vào sổ cấp GCN: CS20610) đề ngày 18/8/2022 (ký hiệu là A) là giả; phôi, hình dấu tròn có nội dung “*CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM* TỈNH BÌNH DƯƠNG - SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” và hình dấu tên “Bạch Thanh T2” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử; chữ ký mang tên “Bạch Thanh Trọng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Bạch Thanh T2 trên “Biên bản làm việc về việc: Thu mẫu chữ ký và mẫu mộc tên” đề ngày 04/4/2024 (ký hiệu M) không phải do cùng một người ký ra. Hành vi của bị cáo Bùi Thị Trà M thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Thị Trà M về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Thị Trà M, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số; hiện đang nuôi con nhỏ, có địa chỉ cư trú rõ ràng; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 280/2024/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Trà M được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Trà M; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 280/2024/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương:
  2. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Trà M phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt bị cáo Bùi Thị Trà M 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 11 tháng 02 năm 2025).

    Giao bị cáo Bùi Thị Trà M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Bùi Thị Trà M không phải nộp.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát (03);
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu VP (4), hồ sơ vụ án, HTHT, 25.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huỳnh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự phúc thẩm về tội làm giả tài liệu của cơ quan

  • Số bản án: 20/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Làm giả tài liệu của cơ quan
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger