|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 03-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng.
2. Ông Nguyễn Văn Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: NGUYỄN VĂN H - Sinh ngày: 02-4-1976 tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 10/01/2024 và số 05 ngày 16/01/2024 của Trưởng Công an xã Đ, huyện T về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức Cảnh cáo.
- - Quyết định số 111 ngày 12/3/2024 của Chủ tịch UBND xã Đ, huyện T đưa vào giáo dục tại xã.
- Bị cáo: TRẦN CÔNG M - Sinh ngày: 19-5-2000 tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo: TRẦN VĂN D - Sinh ngày: 17-10-1987 tại tỉnh Tuyên Quang.
- + Bản án số 99/2021/HSST ngày 13/8/2021 của Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, xử phạt bị cáo 02 năm tù, C1 lái xe trong thời hạn 01 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, án phí HSST 200.000 đồng. đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 151/2021/HSST ngày 21/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, án phí HSST 200.000 đồng. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù tại Bản án số 99/2021/HSST ngày 13/8/2021 của Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù. Ngày 27/4/2024, đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
- Bị cáo: TRỊNH VĂN H3 - Sinh ngày: 21-10-1967 tại tỉnh Tuyên Quang.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 07/01/1993 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2007/HSST ngày 07/12/2007 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, án phí HSST 50.000 đồng. Ngày 04/4/2008, đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Đ – Sinh năm: 1947; Vợ: Đồng Thị B – Sinh năm 1977; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án: Không;
Tiền sự:
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2020/HS-ST ngày 06/3/2020 của Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, án phí HSST 200.000 đồng. Ngày 22/7/2021, đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
Bị cáo Nguyễn Văn H bị bắt tạm giam từ ngày 10-10-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Trần Thanh B1 – Sinh năm: 1971 và bà: Lưu Thị B2 – Sinh năm: 1973; Vợ: Lèng Thị H2 – Sinh năm: 2000; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Quyết định số 17 ngày 27/8/2021 của Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo Trần Công M.
Bị cáo Trần Công M bị bắt tạm giam từ ngày 10-10-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Sán Dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Trần Văn T – Sinh năm: 1947 và bà: Phùng Thị C – Sinh năm: 1957; Vợ: Đỗ Thị T1 – Sinh năm: 1989, Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền sự: Không;
Tiền án:
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2013/HSST ngày 15/11/2013 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 27/9/2015, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
Bị cáo Trần Văn D bị bắt tạm giam từ ngày 10-10-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
Nơi cư trú: Khoan L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Trịnh Văn K (đã chết) và bà: Trần Thị T2 – Sinh năm: 1941; Vợ: Lê Thị T3 – Sinh năm: 1980, Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Bị cáo Trịnh Văn H3 bị bắt tạm giam từ ngày 10-10-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn H và Trần Công M
Nguyễn Văn H, cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và Trần Công M, cư trú tại thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là người nghiện ma tuý, thường sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Nguyễn Văn H thường đi mua ma tuý loại Heroine về cất giấu để sử dụng dần cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời. Khoảng cuối tháng 7/2024, Nguyễn Văn H và Trần Công M thoả thuận, thống nhất Nguyễn Văn H là người đi mua ma tuý về chia thành các gói nhỏ. Hàng ngày Nguyễn Văn H đưa khoảng 10 gói ma tuý cho M bán. Sau khi nhận ma tuý, M thường đứng phía trong chuồng lợn bỏ hoang phía sau nhà Nguyễn Văn H để bán ma tuý cho người khác. Nguyễn Văn H không trực tiếp bán ma tuý, nếu có người hỏi mua ma tuý thì giới thiệu đến khu vực chuồng lợn phía sau nhà gặp M để mua bán. Mỗi ngày M bán được khoảng từ 04 đến 10 gói ma tuý với giá 200.000 đồng/gói, đến buổi tối hàng ngày M đưa tiền bán ma tuý cho Nguyễn Văn H, còn M được trả công bằng ma tuý để sử dụng.
Từ cuối tháng 7/2024 đến ngày 08/10/2024, Nguyễn Văn H đã nhiều lần đi đến khu vực D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc mua ma tuý loại Heroine về sử dụng và đưa ma tuý cho M bán lại cho người khác kiếm lời. Trong đó có lần mua với số tiền 12.000.000 đồng, có lần mua 15.000.000 đồng, do thời gian đã lâu nên Nguyễn Văn H không nhớ đặc điểm của những người bán ma tuý. M cũng không nhớ cụ thể thời gian và những người đã mua ma tuý của M.
Khoảng 11 giờ ngày 08/10/2024, Nguyễn Văn H một mình đi xe ôm đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua của người đàn ông không quen biết được 01 túi ma tuý loại Methamphetamine với số tiền 800.000 đồng đem về nhà cất giấu. Khoảng 09 giờ ngày 09/10/2024, Nguyễn Văn H đưa 10 gói ma tuý loại Heroine và 01 túi ma tuý loại Methamphetamine cho M để bán cho người khác kiếm lời.
Khoảng 11 giờ ngày 09/10/2024, Nguyễn Văn H tiếp tục đi đến khu vực bến xe khách thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua của người đàn ông không quen biết được 01 gói ma tuý loại Heroine gói bằng túi nilon màu đen với số tiền 25.000.000 đồng. Khi về nhà, Nguyễn Văn H lấy một phần ma tuý chia thành nhiều gói nhỏ gói bằng giấy vàng mã để bán cho người khác. Số ma tuý còn lại để trong vỏ bao thuốc lá cất giấu tại chuồng lợn.
Khoảng 12 giờ cùng ngày 09/10/2024, Trần Văn D, cư trú tại thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang gọi điện cho Nguyễn Văn H hỏi mua ma tuý. H bảo D đến gặp M. Sau đó D một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 22S1 - 219.39 (xe của Đỗ Thị T1 - vợ D) đến gặp M tại khu vực chuồng lợn. M bán cho D 01 túi ma tuý loại Methamphetamine với số tiền 1.400.000 đồng. D cầm túi ma tuý và sử dụng điện thoại di động đăng nhập tài khoản số 0977082668 ngân hàng M1 của D chuyển 1.400.000 đồng đến tài khoản số [...] ngân hàng V của M. D mang túi ma tuý về nhà cất giấu và sử dụng hết. Trong ngày 09/10/2024, M đã bán hết 10 gói ma tuý loại Heroine và bán cho D 01 túi ma tuý loại Methamphetamine, được tổng số tiền là 3.400.000 đồng. M chuyển khoản cho Nguyễn Văn H 1.400.000 đồng và đưa 2.000.000 đồng tiền mặt.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, Nguyễn Văn H và Trần Công M lấy số ma tuý loại Heroine còn lại ra chia nhỏ, cân và gói vào các gói bằng giấy vàng mã tại khu vực chuồng lợn, để bán lại cho những người khác kiếm lời.
Hồi 15 giờ 00 phút cùng ngày 10/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiến hành khám xét người và chỗ ở của Nguyễn Văn H, cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, phát hiện thu giữ: 28 gói nhỏ gói bằng giấy một mặt đỏ một mặt trắng bên trong đều chứa chất bột vón cục màu trắng; 01 túi nilon màu trắng mép túi có đường viền màu đỏ bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng; 01 cân điện tử; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A79 5G bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 bên trong lắp 01 sim và số tiền 21.250.000 đồng.
2. Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý của Trần Văn D và Trịnh Văn H3
Khoảng tháng 9/2024 (không nhớ ngày), Trần Văn D đi đến thành phố B, tỉnh Bắc Ninh gặp và mua của người đàn ông không quen biết được 01 túi ma tuý loại Ketamine với số tiền 500.000 đồng mang về nhà cất giấu trong phòng ngủ để có ai mua thì bán lại kiếm lời.
Khoảng 12 giờ ngày 09/10/2024, Trần Văn D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus lắp sim số 0977.082.668 gọi Zalo cho Nguyễn Văn H số 0399.478.198 hỏi mua ma tuý. H bảo D đến gặp M, M đã bán cho D 01 túi ma tuý với số tiền 1.400.000 đồng (như đã nêu ở trên).
Khoảng 10 giờ 47 phút ngày 10/10/2024, Trịnh Văn H3, cư trú tại thôn K, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sử dụng điện thoại số 0983.502.xxx gọi đến số 0977.082.668 của Trần Văn D hỏi mua 500.000 đồng ma tuý loại Heroine. D đồng ý, hẹn Trịnh Văn H3 đến nhà để trao đổi mua bán ma tuý. Khi đến nhà thì Trịnh Văn H3 gọi điện biết D ở trong buồng. D nói “Hàng để ở tấm thảm ngoài sân”. Trịnh Văn H3 quan sát rồi nhấc tấm thảm để trên bờ tường lên thấy 01 gói ma tuý gói bằng giấy bạc màu trắng. Trịnh Văn H3 cầm gói ma tuý cất vào túi quần đang mặc và để 500.000 đồng vào chiếc giầy thể thao và nói “Anh để tiền vào chiếc giầy ở giá giầy dép nhé” rồi đi về (nguồn gốc gói ma tuý D bán cho Trịnh Văn H3 là trong số ma tuý D mua của M); khi Trịnh Văn H3 đi bộ đến khu vực thôn K, xã S thì bị Tổ công tác của Công an tỉnh T kiểm tra, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày, thu giữ 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng; 01 điện thoại di động OPPO A51W. Trịnh Văn H3 khai nhận gói ma tuý mua của D, mục đích Trịnh Văn H3 tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Hồi 13 giờ 05 phút ngày 10/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T tiến hành khám xét người và chỗ ở của Trần Văn D, tại thôn L, xã S, huyện S. Phát hiện, thu giữ: 01 túi nilon màu trắng mép túi có đường viền màu đỏ bên trong chứa chất bột vón cục màu đỏ (D khai nhận mua ở thành phố B); 01 túi nilon màu trắng mép túi có đường viền màu xanh, được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (D khai nhận mua của M vào ngày 09/10/2024); 01 cân điện tử nhãn hiệu Marllono màu đỏ; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus số máy MQ962LL/A. Mục đích D tàng trữ ma tuý để bán cho người khác kiếm lời.
Ngày 10/10/2024, xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể: Trịnh Văn H3, Trần Văn D, Nguyễn Văn H, Trần Công M (+) dương tính với ma túy.
Tại Kết luận giám định số 1377/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận tang vật thu giữ của Trần Văn D: Số chất bột vón cục màu đỏ trong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine, H4; khối lượng 0,069g (Không phẩy không sáu chín gam). Số chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma tuý, loại Ketamine; khối lượng 0,558g (Không phẩy năm năm tám gam).
Tại Kết luận giám định số 1376/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận tang vật thu giữ của Trịnh Văn H3: Số chất bột vón cục màu trắng trong phong bì gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng 0,356g (Không phảy ba năm sáu gam).
Tại Kết luận giám định số 1378/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận tang vật thu giữ của Nguyễn Văn H: Số chất bột vón cục màu trắng trong phong bì gửi giám định đều là chất ma tuý, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; tổng khối lượng 28,055g (Hai tám phẩy không năm năm gam).
Tại cáo trạng số: 19/CT-VKSSD ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, điểm i, khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố đối với bị cáo Trần Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn H3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M, bị cáo Trần Văn D, bị cáo Trịnh Văn H3. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của các bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:
Về tội danh:
- - Tuyên bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, điểm i, khoản 2 Điều 251.
- - Tuyên bị cáo Trần Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bị cáo Trịnh Văn H3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 năm đến 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
- - Áp dụng điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Công M từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điềm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn D từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H3 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
- - 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trịnh Văn H3 giám định ngày 10/10/2024”, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trịnh Văn H3.
- - 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn D giám định ngày 10/10/2024”, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn D.
- - 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn H giám định ngày 10/10/2024”, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Văn H.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A93, số IMEI 1: 867218059146957; số IMEI 2: 867218059146944, bên trong lắp Viettel số thuê bao 0354.911.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
- - 01 điện thoại di động, OPPO A79 5G, số IMEI 1: 862780062356252, số IMEI 2: 862780062356245, bên trong lắp Viettel số thuê bao 0399.478.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Trần Công M sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi K30 5G Speed, số IMEI 1: 864451045127297; số IMEI 2: 864451045897295, bên trong lắp sim V1, trên sim có dãy số 8984048000935779435 và 8984048008810401494, máy cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Trịnh Văn H3 sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A51w, số IMEI 1: 868573029660815, số IMEI 2: 868573029660807, bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0983.502.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Trần Văn D sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI 356110083736830, bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0977.082.xxx, điện thoại đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
- - 01 cân điện tử của bị cáo Trần Văn D.
- - 01 cân điện tử của bị cáo Nguyễn Văn H.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội mà có.
Số tiền 21.250.000 đồng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M, bị cáo Trần Văn D, bị cáo Trịnh Văn H3 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M, bị cáo Trần Văn D, bị cáo Trịnh Văn H3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định vật chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:
- Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn H và Trần Công M:
Trong thời gian từ cuối tháng 7/2024 đến ngày 08/10/2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Văn H và Trần Công M đã nhiều lần mua trái phép chất ma tuý để bán lại cho người khác kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Nguyễn Văn H là người đi mua ma tuý về chia thành các gói nhỏ. Hàng ngày, Nguyễn Văn H đưa cho M khoảng 10 gói ma tuý để M là người trực tiếp đứng phía trong chuồng lợn bỏ hoang phía sau nhà H bán ma tuý cho người khác. Mỗi ngày M bán được khoảng từ 04 đến 10 gói ma tuý với giá 200.000 đồng/gói, đến buổi tối hàng ngày M đưa lại tiền bán ma tuý cho Nguyễn Văn H. M được trả công bằng ma tuý để sử dụng (Do thời gian đã lâu nên Nguyễn Văn H không nhớ đặc điểm của những người bán ma tuý. M cũng không nhớ cụ thể thời gian và những người đã mua ma tuý của M).
Đến ngày 09/10/2024, Trần Công M tiếp tục có hành vi bán 10 gói ma tuý loại Heroine cho nhiều người không quen biết được 2.000.000 đồng và bán cho 01 túi ma tuý loại Methamphetamine cho Trần Văn D với số tiền 1.400.000 đồng. M đã đưa tiền mặt và chuyển khoản cho Nguyễn Văn H đủ 3.400.000 đồng.
Ngoài ra, Hồi 15 giờ 00 phút ngày 10/10/2024, Nguyễn Văn H và Trần Công M còn có hành vi tàng trữ trái phép 28,055g (Hai tám phẩy không năm năm gam) ma tuý loại Heroine, tại khu vực chuồng lợn bỏ hoang phía sau nhà Nguyễn Văn H, mục đích tàng trữ để bán kiếm lời.
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Trần Văn D và hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Trịnh Văn H3:
Hồi 11 giờ 05 phút ngày 10/10/2024, tại thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Trần Văn D đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý loại Heroine; khối lượng 0,356g (Không phảy ba năm sáu gam) cho Trịnh Văn H3 với số tiền 500.000 đồng. Mục đích Trịnh Văn H3 tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân.
Ngoài ra, hồi 13 giờ 05 phút ngày 10/10/2024, Trần Văn D còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,069g (Không phẩy không sáu chín gam) ma tuý loại Methamphetamine, H4 và 0,558g (Không phẩy năm năm tám gam) ma tuý loại Ketamine tại nhà ở của D. Mục đích tàng trữ để bán kiếm lời.
Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý. Các bị cáo mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Trịnh Văn H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Đ được thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bố đẻ là ông Nguyễn Văn H1 (N) được tặng Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục. Bị cáo Trần Văn D có bố đẻ là ông Trần Văn T được Ban Liên lạc quân trình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào tặng Kỷ niệm chương Q tình nguyện Việt Nam giúp Lào (Đơn vị C6-E335), Ban liên lạc quân tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng Lào – Trung đoàn 335 tặng Kỷ niệm chương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng trung đoàn anh hùng, Bộ chứng nhận đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, Quyết định số: 705 ngày 08/11/2010 của Bộ về chế độ trợ cấp một lần với quân nhân tham gia kháng chiến chông Mỹ cứu nước, Quyết định số: 1156 ngày 07/12/2017 của Bộ về chế độ trợ cấp một lần với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc tế, Giấy chứng nhận của Hội H5 – Lào tỉnh Tuyên Quang. Do vậy, các bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần văn D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Công M, Trịnh Văn H3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Trần Văn D bị áp dụng tình tiết Tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy, công việc chính của các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Chất ma tuý là chất kích thích, gây ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Từ đó, phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội khác như cướp giật, trộm cắp, lây truyền đại dịch bệnh HIV-AIDS là rất nguy hiểm cho xã hội nói chung và trên địa bàn huyện S, tỉnh Tuyên Quang nói riêng. Bản thân các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Công M, Trịnh Văn H3 đã bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm của bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh đối với các bị cáo và cách ly các bị cáo trong trại cải tạo một thời gian để giúp các bị cáo cai nghiện, tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa chung tội phạm này.
HĐXX xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Trần Công M có vai trò đồng phạm giản đơn.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bì niêm phong chứa ma tuý đã giám định, mặt trước ghi “Tang vật vụ Trịnh Văn H3 giám định ngày 10/10/2024”; 01 bì niêm phong chứa ma tuý đã giám định, mặt trước ghi “Tang vật vụ Trần Văn D giám định ngày 10/10/2024”; 01 bì niêm phong chứa ma tuý đã giám định, mặt trước ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn H, giám định ngày 10/10/2024”. HĐXX xét thấy, đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán nên cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- - 01 điện thoại di động OPPO A51W, bên trong lắp 01 sim số 0983.502.577 thu giữ của Trịnh Văn H3; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus, bên trong lắp 01 sim số 0977.082.668 thu giữ của Trần Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 bên trong lắp 01 sim số 0354.911.113; 01 điện thoại di động OPPO A79 5G, bên trong lắp 01 sim số 0399.478.198 thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động Redmi K30 5G Speed, bên trong lắp 01 sim số 0974.082.338 và 01 sim số 0375.494.090 thu giữ của Trần Công M. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận sử dụng chiếc điện thoại nói trên làm công cụ để liên lạc với nhau để trao đổi, thỏa thuận việc mua, bán ma túy. Do vậy, 05 chiếc điện thoại nói trên là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp, có căn cứ.
- - Đối với 01 cân điện tử nhãn hiệu Marllono màu đỏ; 01 cân điện tử. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn D và bị cáo Nguyễn Văn H đều thừa nhận sử dụng chiếc cân nói trên làm công cụ để cân ma túy, phục vụ cho việc mua bán. Do vậy, 02 chiếc cân nói trên là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp, có căn cứ.
- - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định được số tiền Số tiền 21.250.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H. HĐXX xét thấy, đây là khoản tiền do phạm tội mà có từ hành vi bán ma túy trái phép của bị cáo H và bị cáo H cũng thừa nhận số tiền trên là do hành vi mua bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M, bị cáo Trần Văn D, bị cáo Trịnh Văn H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp bắt tạm giam với bị can, ra quyết định truy tố; ra Cáo trạng; thu thập chứng cứ tài liệu đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Các vấn đề khác:
- - Đối với những người bán ma tuý cho Nguyễn Văn H tại khu vực thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và người đàn ông bán ma tuý cho Trần Văn D tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- - Đối với việc Trần Văn D khai nhận ngày đầu tháng 10/2024 (không nhớ ngày), Trần Văn D gọi Z cho Nguyễn Văn H hỏi và mua được 2.000.000 đồng ma tuý Heroine và 200.000 đồng ma tuý hồng phiến. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng H không thừa nhận nên không có căn cứ xem xét, xử lý.
- - Đối với số tiền 500.000 đồng Trần Văn D bán ma tuý cho Trịnh Văn H3, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định hiện số tiền đang ở đâu nên không thu giữ được.
- - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh Văn H3 vào ngày 09/10/2024 tại thôn K, xã S, huyện S; Trần Văn D vào ngày 09/10/2024 tại thôn L, xã S; Nguyễn Văn H và Trần Công M ngày 10/10/2024 tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trưởng phòng CSĐTTP về ma tuý Công an tỉnh T đã xử phạt vi phạm hành chính, hình thức Cảnh cáo.
- - Đối với Đỗ Thị T1 không biết D sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 22S1 - 219.39 đi mua ma tuý nên không xem xét xử lý.
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt:
- - Áp dụng điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
- - Áp dụng điểm b, điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Công M 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điềm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H3 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 10-10-2024.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ:
- - 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trịnh Văn H3 giám định ngày 10/10/2024", mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trịnh Văn H3.
- - 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn D giám định ngày 10/10/2024”, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn D.
- - 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Văn H giám định ngày 10/10/2024”, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Văn H.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A93, số IMEI 1: 867218059146957; số IMEI 2: 867218059146944, bên trong lắp Viettel số thuê bao 0354.911.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
- - 01 điện thoại di động, OPPO A79 5G, số IMEI 1: 862780062356252, số IMEI 2: 862780062356245, bên trong lắp Viettel số thuê bao 0399.478.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Trần Công M sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi K30 5G Speed, số IMEI 1: 864451045127297; số IMEI 2: 864451045897295, bên trong lắp sim V1, trên sim có dãy số 8984048000935779435 và 8984048008810401494, máy cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Trịnh Văn H3 sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A51w, số IMEI 1: 868573029660815; số IMEI 2: 868573029660807, bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0983.502.xxx, máy cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bị cáo Trần Văn D sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI 356110083736830, bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0977.082.xxx, điện thoại đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
- - 01 cân điện tử của bị cáo Trần Văn D.
- - 01 cân điện tử của bị cáo Nguyễn Văn H.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước khoản tiền do bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội mà có.
Số tiền 21.250.000đ (hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Vật chứng là đồ vật theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/012025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Vật chứng là tiền theo Công văn số: 320/QĐ-STC ngày 29-11-2024 của Sở Tài chính tỉnh T).
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Trần Công M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Trịnh Văn H3 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Công M, bị cáo Trần Văn D, bị cáo Trịnh Văn H3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 03-3-2025).
|
Nơi nhận:
|
T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Cường |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Văn Hùng cùng đp k1 + k2 Đ251
