|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-PT Ngày: 28/02/2025 V/v: Xin ly hôn |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
| Các Thẩm phán: | Bà Bùi Thị Thu Hồng |
| Bà Nguyễn Thị Thanh Hà | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Phạm Thị Trang - Thư ký TAND thành phố Hà Nội. |
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 203/2024/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXPT-HNGĐ ngày 17 tháng 2 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim D, sinh năm 1959
Nơi thường trú: Số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Bà D có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Ông Phạm Văn L (L1), sinh năm 1953
Nơi thường trú: Số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Ông L có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung:
Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim D trình bày: Bà và ông Phạm Văn L (L1) kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 05/6/1984 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65. Ông bà tổ chức đám cưới từ năm 1983, đến năm 1984 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Ông L tên thật là Phạm Văn L nhưng do sai sót trong quá trình làm đăng ký kết hôn nên trong đăng ký kết hôn viết tên ông L là Phạm Văn L1. Các giấy tờ nhân thân của ông L từ trước đến nay đều tên là Phạm Văn L.
Trong quá trình chung sống, ông bà sống bình thường đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mẫu thuận sâu sắc. Nguyên nhân là do ông L không tôn trọng bà và gia đình nhà bà. Ông L cãi nhau với gia đình bà, từ đó giữa bà và ông L bắt đầu có khoảng cách. Bà cảm thấy trong cuộc sống, ông L không coi bà là người trong gia đình, luôn có thái độ coi thường bà, coi bà như người ngoài. Dẫn đến bà cảm thấy bị tổn thương sâu sắc. Khi tổ chức đám cưới cho con trai bà, ông L không bàn bạc với bà bất kể vấn đề gì mà chỉ bàn bạc với em của ông L.
Năm 2016, bà bị bệnh khớp nặng, thường xuyên phải đi điều trị nhưng do bà và ông L không có tiền chữa bệnh nên có những lần bà phải đi vay tiền của em bà để chữa bệnh. Do cuộc sống của vợ chồng cũng khó khăn nên ông bà cũng không có tiền tiết kiệm. Bà có đề xuất với ông L bán một phần đất để có tiền sửa nhà và chữa bệnh cho 2 vợ chồng nhưng ông L không đồng ý. Trong khi nền nhà của ông bà thấp hơn đường nên vô cùng ẩm thấp, bà lại bị bệnh khớp nặng, biến dạng các khớp ngón tay, ngón chân nên không thể ở trong môi trường ẩm thấp như vậy được. Nên đến năm 2020, bà có sang phụ giúp em gái bà bán hàng và ở lại chăm sóc mẹ bà. Nên bà thường xuyên không sống ở số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Từ năm 2020 đến nay, ông L không hề quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ cho bà chữa bệnh. Bà phải đi làm cho em gái bà để lấy tiền thuốc men. Đến nay bà cảm thấy cuộc sống gia đình quá nhạt nhẽo, không còn sự gắn kết, yêu thương, quan tâm chăm sóc đến nhau. Bà cũng không còn tình cảm với ông L. Bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông L.
- Về con chung: Bà và ông L có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc X, sinh ngày 21/10/1984 và Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 18/12/1991. Hai con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Bà đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng ông bà là nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Nguồn gốc nhà đất là của bố mẹ chồng là cụ Phạm Văn T và cụ Trịnh Thị N. Khi cho đất vợ chồng bà thì bố chồng bà là cụ Phạm Văn T đã mất. Năm 2004, sau khi bố chồng bà mất, mẹ chồng bà có họp gia đình và phân chia nhà đất cho tất cả các con gồm: ông Phạm Văn L, ông Phạm Văn V, ông Phạm Văn M, bà Phạm Thị Đ1 và bà Phạm Thị T1. Hiện nay, nhà đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của vợ chồng bà
vào năm 2005. Thời điểm ông bà được sang tên nhà đất, mẹ chồng bà là cụ Trịnh Thị N vẫn còn sống và hoàn toàn minh mẫn. Hiện nay, bà không có lương hưu, không có thu nhập, không có nơi ở vì vậy bà đề nghị Tòa án chia đôi tài sản chung của vợ chồng để bà có chỗ sinh sống.
Ngày 23/5/2005, bà và ông L đã được UBND quận B, thành phố Hà Nội Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, thửa đất số 66B+66G, tờ bản đồ 44, diện tích 293,6m², diện tích sử dụng riêng là 263,4m², diện tích sử dụng chung 30,2m²; mục đích sử dụng: 263,4m² đất ở tại đô thị.
Hiện nay nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H thuộc quyền sử dụng của B và ông L có các diện tích nhà sau:
- + Một nhà chính 2 tầng nằm phía trong cùng do mẹ bà là cụ Trịnh Thị N xây dựng năm 1991. Tiền xây dựng nhà là do cụ N bỏ ra. Từ khi xây dựng, ông bà không sửa chữa nhà. Cuối năm 2012 sau khi cụ N mất, ông bà có lợp mái tôn trên tầng 2 thành như hiện nay. Nguồn tiền làm mái tôn là do cụ N để lại một phần, còn lại là của vợ chồng bà.
- + Diện tích bếp sát nhà chính do cụ N xây dựng khoảng năm 2006-2007.
- + Một nhà 2 tầng 1 tum giáp ngõ đi chung do ông bà xây dựng khoảng năm 2006-2007. Từ khi xây dựng nhà đến nay, ông bà không cải tạo, sửa chữa gì ngôi nhà này.
Tiền xây nhà 2 tầng 1 tum và bếp một phần do mẹ chồng bà là cụ Trịnh Thị N cho, cụ thể: cụ N cho vợ chồng bà 150.000.000đồng để xây dựng nhà và bếp thì ông L đã lấy mất 60.000.000đồng đi trả nợ, chỉ còn lại 90.000.000 đồng. Việc xây dựng, sửa chữa nhà do ông L đứng ra trông nom thợ.
Ngoài ra, khoảng năm 2011-2012, cụ N có cho tiền ông bà để lợp mái nhựa khung sắt trên diện tích sân. Quá trình sử dụng có hư hỏng phần mái nhựa, vợ chồng bà đã sửa chữa 2 lần, lần cuối là sửa chữa năm 2017-2018.
Hiện nay, theo sơ đồ trích đo địa chính thửa đất do Công ty cổ phần P lập tại buổi xem xét, thẩm định, định giá tài sản, diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà và ông L là 263,4m². Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà và ông L là 263,4m². Nay theo sơ đồ đo đạc thể hiện nhà em trai ông L là ông Phạm Văn M đang xây nhà trên một phần đất thuộc quyền sử dụng của bà và ông L. Bà xác nhận nguyên nhân của việc ông M xây nhà trên phần đất của ông bà là vì: năm 2001, mẹ chồng bà lúc đó còn sống là
người bỏ tiền ra xây dựng 3 ki ốt tại số A mặt ngõ A H, mẹ chồng bà đã xây thụt vào khoảng hơn 1m chiều sâu để đường phía trước nhà rộng hơn. Do đó, các diện tích nhà mẹ chồng bà đã chia cho các anh chị em ông L ở phía sau tịnh tiến đều lùi vào hơn 1 mét chiều sâu. Bà có ý kiến về vấn đề này như sau: nếu ông L muốn giải quyết riêng với ông M về phần đất này thì đề nghị Tòa án chia cho ông L được quyền sở hữu, sử dụng phần đất mà ông M đang xây nhà trên đó để ông L và ông M tự thỏa thuận và phần đất này bù vào phần đất chia cho ông L trong tổng diện tích nhà đất của ông bà.
Về phần diện tích bếp bà và ông L đang xây dựng trên một phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị Đ1, bà có ý kiến: Nếu bà Đ1 và ông L tự thỏa thuận với nhau thì bà đồng ý. Nếu ông L và bà Đ1 không thỏa thuận được thì bà đề nghị trả lại diện tích đất này cho bà Đ1.
Về kết quả định giá của Hội đồng định giá ngày 20/7/2023, bà không có ý kiến gì.
Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết chia đôi diện tích nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H cho B và ông L. Bà xin được chia bằng hiện vật để Bà có nhà ở, cụ thể bà xin được chia nhà 2 tầng 1 tum và một phần diện tích đất sát bên cạnh nhà này.
- Về các khoản vay nợ: Bà và ông L không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà xin được miễn án phí do bà tuổi đã cao, không có thu nhập và công việc, không có lương hưu.
Ngoài ra, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác
Bị đơn ông Phạm Văn L (Lân) trình bày:
- Về tình cảm: Ông và bà Bùi Thị Kim D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 05/6/1984 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65. Ông bà tổ chức đám cưới từ năm 1983, đến năm 1984 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Ông tên thật là Phạm Văn L nhưng do sai sót trong quá trình làm đăng ký kết hôn nên trong đăng ký kết hôn viết tên Ông là Phạm Văn L1. Các giấy tờ nhân thân của Ông từ trước đến nay đều tên là Phạm Văn L.
Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chuyển về chung sống tại địa chỉ số E tổ C phường N, quận B, thành phố Hà Nội (nay là số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội). Quá trình chung sống, ông bà sống hòa thuận đến khoảng
năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vấn đề kinh tế. Khoảng năm 2019, bà D thỉnh thoảng bỏ nhà đi nơi khác. Đi đâu ông không biết, bà D chỉ bảo là đi làm. Thời gian bà D bỏ đi có khi là 1 ngày, có khi 2-3 ngày, có khi 1 tuần mới về 1 lần, có khi cả tháng không ngủ ở nhà. Do đó ông giận bà D nên không hỏi han đến bà D nữa. Từ năm 2019 đến nay, bà D vẫn thường xuyên đi ở nơi khác. Ông và bà D mâu thuẫn sâu sắc từ năm 2019 cho đến nay. Bà D yêu cầu ông bán nhà. Nhưng vì đây là nhà của cha ông để lại nên ông không đồng ý. Vì vậy, ông và bà D càng mâu thuẫn. Từ năm 2021 đến nay, ông và bà D không nói chuyện, hỏi han, quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau.
Nay bà D kiên quyết xin ly hôn ông, ông đồng ý ly hôn với bà D.
- Về con chung: Ông và bà D có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc X, sinh ngày 21/10/1984 và Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 18/12/1991. Hai con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Ông và bà D không có tài sản chung. Nhà đất ông bà đang quản lý, sử dụng tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của bố mẹ ông thừa kế cho ông. Khi ông làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất trên ông có đưa tên bà D vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với nhà đất trên. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà D, ông không đồng ý do đây là đất ông được thừa kế để hương hỏa thờ cúng tổ tiên. Khi ông bà làm thủ tục sang tên sổ đỏ, mẹ ông vẫn còn sống. Việc ông và bà D cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội mẹ ông có biết. Ngày 23/5/2005, ông và bà D đã được UBND quận B, thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, thửa đất số 66B+66G, tờ bản đồ 44, diện tích 293,6m², diện tích sử dụng riêng là 263,4m², diện tích sử dụng chung 30,2m²; mục đích sử dụng: 263,4m² đất ở tại đô thị.
Từ khi được UBND quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông và bà D, ông không khiếu nại gì với cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hiện nay, theo sơ đồ trích đo địa chính thửa đất do Công ty cổ phần P lập tại buổi xem xét, thẩm định, định giá tài sản, diện tích đất thuộc quyền sử dụng
riêng của ông và bà D là 263,4m². Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông và bà D là 263,4m². Nay theo sơ đồ đo đạc thể hiện nhà em trai ông là Phạm Văn M đang xây nhà trên một phần đất thuộc quyền sử dụng của ông, ông có ý kiến là việc này trong nội bộ gia đình ông và ông M sẽ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên nhân của việc ông M xây nhà trên phần đất của ông là vì: năm 2001, mẹ ông lúc đó còn sống là người bỏ tiền ra xây dựng 3 ki ốt tại số A mặt ngõ A H, mẹ ông đã xây thụt vào khoảng hơn 1m chiều sâu để đường phía trước nhà rộng ra. Do đó, các diện tích nhà mẹ ông đã chia cho các anh chị em ông ở phía sau tịnh tiến đều lùi vào hơn 1 mét chiều sâu.
Hiện nay nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H thuộc quyền sử dụng của ông và bà D có các diện tích nhà sau:
- + Một nhà chính 2 tầng nằm phía trong cùng do mẹ ông là cụ Trịnh Thị N xây dựng năm 1991. Tiền xây dựng nhà là do mẹ ông bỏ ra. Từ khi xây dựng, chúng tôi không sửa chữa nhà. Năm 2007-2008 ông bà có lợp mái tôn trên tầng 2 thành như hiện nay.
- + Một nhà 2 tầng 1 tum giáp ngõ đi chung do mẹ ông xây năm 2007. Tiền xây dựng nhà do mẹ ông cho. Từ khi xây dựng nhà đến nay, ông bà không cải tạo, sửa chữa gì.
- + Diện tích bếp sát nhà chính do mẹ ông xây dựng năm 2007. Tiền xây dựng do mẹ ông cho.
- + Lợp mái mái nhựa khung sắt trên diện tích sân do mẹ ông làm năm 2003. Tiền đôn nền sân và làm mái nhựa là của mẹ ông bỏ ra.
Về phần diện tích bếp ông và bà D đang xây dựng trên một phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà Phạm Thị Đ1, ông có ý kiến: Ông và bà Đ1 sẽ tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về kết quả định giá của Hội đồng định giá ngày 20/7/2023, ông không có ý kiến gì.
Nay bà D đề nghị chia nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, ông có ý kiến như sau: Tài sản này không phải do vợ chồng ông tạo lập ra nên ông không đồng ý chia nhà đất cho bà D. Ông sẽ thu xếp tiền để hỗ trợ cho bà D sau khi ly hôn, số tiền khoảng 1.500.000.000 đồng đến 2.500.000.000 đồng để bà D ổn định chỗ ở và sinh sống.
- Về các khoản vay nợ: Ông và bà D không có nợ chung, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông xin được miễn án phí do ông tuổi đã cao, không có thu nhập và công việc, không có lương hưu.
Ngoài ra, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn M trình bày:
Ông là em trai của ông Phạm Văn L (L1). Anh trai ông và bà Bùi Thị Kim D tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 05/6/1984 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65. Bà D và ông L tổ chức đám cưới từ năm 1983, đến năm 1984 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Sau khi bà D, ông L kết hôn có về địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội từ thời điểm năm 1983 đến nay.
Do ông và ông L, bà D ở cùng một nhà nên ông nhận thấy trong quá trình ông L, bà D chung sống với nhau không có xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng gì, chỉ thi thoảng vợ chồng có những mâu thuẫn nhỏ và ông bà đã tự giải quyết được với nhau. Từ khoảng năm 3 năm nay, bà D muốn bán nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố H với mục đích chữa bệnh hay sửa nhà. Khi bà D muốn bán nhà đất trên ông L và các con chung của ông bà không đồng ý.
Về nguồn gốc nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội là tổ tiên ông cha của gia đình ông để lại cho các con cháu. Bố ông là cụ Phạm Văn T chết năm 2001, sau khi bố ông mất đến năm 2005 thì mẹ ông là cụ Trịnh Thị N có chia đất cho 5 anh em ông: Trong đó chia cho ông L, bà D cụ thể như sau: 263,4m2; ông là Phạm Văn M được 46,9m2; bà Phạm Thị Đ1 là 159,7m2, ngoài ra còn chia cho ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị T1. Diện tích đất được chia cụ thể của ông V, bà T1 ông không nhớ.
Sau khi mẹ ông chia đất cho các anh em ông, mọi người đều đã được UBND quận B, thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 759829 do UBND quận B cấp ngày 25/4/2005 với diện tích 77,1m2 trong đó diện tích sử dụng riêng là 46,9m2, diện tích sử dụng chung (ngõ đi chung) là 30,2m2 thuộc thửa 66C+66G tờ bản đồ số 44 tại địa chỉ số E tổ C cụm E phường N (nay là số A ngõ A H, phường N), quận B, thành phố Hà Nội.
Khi ông L đi nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND phường, thì phường có nói là ông L có vợ là bà Bùi Thị Kim D thì phải đưa tên
của vợ vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với ông và bà Đ1 không có vợ, chồng thì không phải đưa tên ai khác vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ trước đến nay, mặc dù ông đã được chia đất như đã nêu trên nhưng ông vẫn ở trên tầng tum được xây trên diện tích bếp của nhà ông L, bà D. Lý do là do ông không có vợ con nên đã quen ở đấy mà không muốn dọn về nhà đất ông đã được chia.
Trong lời khai ban đầu, ông trình bày: Năm 2006, ông xây dựng nhà đất của ông khi xây dựng ông có để lại 1 phần diện tích đất có chiều rộng là 50cm và chiều dài kéo dài hết đất là 10,32m. Đến năm 2007 ông L và bà D có xây dựng nhà 2 tầng sát cạnh nhà ông. Do quan hệ anh em ruột thịt nên ông có nói với ông L, bà D xây dựng nhà trên phần đất trống của ông như trên (chiều rộng là 50cm và chiều dài kéo dài hết đất là 10,32m). Việc đề nghị ông L, bà D xây dựng trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông là do ông đề xuất và giữa ông, bà D, ông L cũng chỉ thỏa thuận miệng và không có giấy tờ gì. Ông L, bà D1 cũng không đưa cho ông bất cứ khoản tiền nào để được phép xây dựng nhà trên đất của ông. ông cũng không bán phần diện tích nêu trên cho ông L, bà D.
Sau đó, ông thay đổi lời khai và xác nhận: Ông có xây nhà trên một phần đất thuộc quyền sử dụng của ông L, bà D. Diện tích cụ thể ông thống nhất với sơ đồ hiện trạng nhà đất do Công ty cổ phần P và bản đồ Hà Nội lập tại buổi xem xét, thẩm định, định giá tài sản. Ông đề nghị tự thỏa thuận với ông L về phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông L, bà D mà ông đã xây nhà trên đó.
Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Ngoài ra ông không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Đ1 trình bày:
Bà là em gái của ông Phạm Văn L (L1). Anh trai bà và bà Bùi Thị Kim D có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 05/6/1984 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65. Ông L và bà D tổ chức đám cưới từ năm 1983, đến năm 1984 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Sau khi ông L, bà D kết hôn có về địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội từ thời điểm năm 1983 đến nay.
Do nhà bà ngay đằng sau nhà ông L, bà D nên trong quá trình ông L, bà D chung sống với nhau không có xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng gì, chỉ thi thoảng
vợ chồng có những mâu thuẫn nhỏ và ông bà đã tự giải quyết được với nhau. Từ khoảng 2 đến 3 năm nay, có người đến đòi tiền bà D và bà có nghe thấy bà D nói với ông L là: “Bao giờ ông cầm sổ đỏ? Bao giờ ông bán nhà?”. Sau đó bà D nói muốn bán nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Khi bà D muốn bán nhà đất trên ông L và các con chung của ông bà không đồng ý với lý do nhà đất trên là do ông cha để lại, ông bà không có đóng góp gì nên không được bán.
Về nguồn gốc nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội là tổ tiên ông cha của gia đình bà để lại cho các con cháu. Bố bà là cụ Phạm Văn T chết năm 2001, sau khi bố bà mất đến năm 2005 thì mẹ bà là cụ Trịnh Thị N có chia đất cho 5 anh em chúng bà: Trong đó chia cho ông L cụ thể như sau: 263,4m2; ông Phạm Văn M là 46,9m2; bà là Phạm Thị Đ1 là 159,7m2, ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị T1. Diện tích đất được chia cụ thể của ông V, bà T1 bà không nhớ.
Sau khi mẹ bà chia đất, các anh em bà đều đã được UBND quận B, thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số AB 753327 do UBND quận B cấp ngày 23/5/2005 với diện tích 159,7m2 sử dụng riêng thuộc thửa 66A, tờ bản đồ số 44 tại địa chỉ số E tổ C cụm E phường N (nay là số A ngõ A H, phường N), quận B, thành phố Hà Nội.
Khi ông L đi nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND phường, thì phường có nói là ông L có vợ là bà Bùi Thị Kim D thì phải đưa tên của vợ vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với bà và ông M không có vợ, chồng thì không phải đưa tên ai vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ trước đến nay, mặc dù bà đã được chia đất như đã nêu trên nhưng bà vẫn ở trên tầng tum được xây trên diện tích bếp của nhà ông L, bà D. Lý do là do bà không có chồng con nên đã quen ở đấy mà không muốn dọn về nhà đất bà đã được chia.
Khi được bố mẹ chia đất cho, hiện trạng nhà bà đã có như hiện nay, bà chỉ sửa chữa lại cho mới hơn. Khoảng năm 2007- 2008 khi ông L, bà D xây bếp ở sát cạnh phần đất trống phía cuối nhà bà và thuộc quyền sử dụng đất của bà có diện tích khoảng 15-16m2. Do quan hệ anh em ruột thịt nên bà có nói với ông L, bà D xây dựng bếp rộng ra trên phần diện tích đất trống của bà để khi gia đình có
công việc thì có bếp rộng rãi để sử dụng. Việc bà đề nghị ông L, bà D xây dựng trên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà là do bà đề xuất và giữa bà, bà D, ông L cũng chỉ thỏa thuận miệng và không có giấy tờ gì. Ông L, bà D cũng không đưa cho bà bất cứ khoản tiền nào để được phép xây dựng nhà trên đất của bà. Bà cũng không bán phần diện tích nêu trên cho ông L, bà D. Hiện nay, ông L và bà D đang giải quyết ly hôn và chia tài sản chung vợ chồng tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình. Ý kiến của bà như sau: Về kết quả định giá của Hội đồng định giá ngày 20/7/2023, bà không có ý kiến gì. Đối với phần diện tích đất bà D, ông L xây dựng trên diện tích đất của bà, bà cũng thống nhất với kết quả đo đạc của Công ty CP P và bản đồ Hà Nội và không đề nghị đo đạc lại. Nếu trong trường hợp ông L, bà D không hòa giải được và vẫn tiếp tục chia tài sản chung, thì bà và ông L sẽ tự thỏa thuận với nhau về phần đất thuộc quyền sử dụng của bà mà ông L và bà D xây dựng nhà trên đó, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Ngoài ra bà không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thanh T2 và anh Nguyễn Văn N1 thống nhất trình bày:
Vợ chồng anh chị và ông Phạm Văn L có ký Giấy thỏa thuận thuê nhà ngày 01/7/2021 với nội dung: “Bà Nguyễn Thanh T2 đồng ý thuê nhà của ông Phạm Văn L tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội là 10 năm. Tiền thuê nhà là 2.600.000 đồng/tháng và đóng tiền thuê theo năm. Trong thời gian thuê ông Phạm Văn L không được phép thay đổi giá thuê và đồng thời hai bên không được phép hủy ngang, ai vi phạm sẽ chịu phạt 6 tháng tiền thuê nhà tương đương là 15.600.000 đồng theo thỏa thuận”.
Anh chị thuê nhà của ông L và không ký hợp đồng thuê nhà với bà Bùi Thị Kim D, anh chị thuê nhà từ năm 2018 đến nay và giá thuê nhà là 2.600.000 đồng, số tiền thuê nhà này anh chị đều trả cho ông L. Sau đó, khi anh chị đăng ký tạm trú thì có lập Giấy thỏa thuận thuê nhà ngày 01/7/2021 với ông L. Theo như thỏa thuận thuê nhà vợ chồng anh chị thuê tầng 1 của ngôi nhà 2 tầng với diện tích khoảng 36m2 của ông L tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Hiện nay, anh chị đã đóng tiền thuê nhà của năm 2023 cho ông L. Trong quá trình vợ chồng anh chị thuê nhà của ông L, anh chị không có sửa chữa, cải tạo đối với ngôi nhà đang thuê.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh chị thấy rằng đây là việc
riêng của vợ chồng ông L, bà D không liên quan đến vợ chồng anh chị do anh chị cũng chỉ là người thuê nhà. Đề nghị, Tòa án không đưa vợ chồng anh chị vào tham gia tố tụng. Do hiện nay anh chị bận đi làm không thể đến Tòa làm việc được. Vì vậy, anh chị xin vắng mặt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án; các buổi làm việc; các phiên hòa giải và công khai chứng cứ; các phiên tòa xét xử vụ án sơ thẩm và phúc thẩm.
Trong trường hợp Tòa án phân chia nhà đất của ông L và bà D tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, anh chị sẽ chấp hành theo quyết định của Tòa án, không có ý kiến gì và đồng ý trả nhà cho ông L, bà D và không có bất kỳ yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Anh chị không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Ngoài ra, anh chị không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn L – Bà Lưu Thị N2 trình bày:
Về tình cảm: Xét thấy bà D và ông L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 05/6/1984 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65. Trong quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Khi xảy ra mâu thuẫn hai bên đã giảng hòa nhưng không có kết quả. Bà D và ông L đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, do vậy xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà D xin ly hôn ông L, ông L cũng đồng ý. Đề nghị Tòa án ghi nhận sự thống nhất thuận tình ly hôn của bà D và ông L.
Về con chung: Ông L và bà D có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc X, sinh ngày 21/10/1984 và Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 18/12/1991. Hai con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, đề nghị Tòa án ghi nhận.
Về vay nợ chung: Ông L và bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Nguồn gốc nhà đất tại địa chỉ 191 ngõ A H là của ông nội của ông Phạm Văn L để lại cho bố mẹ của ông L. Sau khi bố ông L mất, mẹ ông L là cụ Trịnh Thị N đã họp các con lại và phân chia tài sản cho các con, trong đó chia cho ông L được 263,4m2. Năm 2005, ông L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, khi làm thủ tục
cấp Giấy chứng nhận do cán bộ địa chính hướng dẫn ông L nên ông L đã để tên bà D vào trong Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, bà D không có đóng góp gì trong việc tạo lập khối tài sản chung là nhà đất tại địa chỉ A ngõ A H. Nay ông L đề nghị hỗ trợ cho bà D số tiền từ 1.500.000.000đồng đến 2.500.000.000đồng để bà D ổn định chỗ ở là phù hợp. Đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của ông L. Còn nguồn gốc nhà đất của ông L đề nghị HĐXX cho ông L được sở hữu, sử dụng toàn bộ. Đề nghị bác yêu cầu chia tài sản của bà D.
Tại Bản án số 532/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Bùi Thị Kim D.
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L (tức L1).
- Về con chung: Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L (tức L1) xác nhận có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc X, sinh ngày 21/10/1984 và Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 18/12/1991. Hai con chung đã trưởng thành đủ 18 tuổi, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung:
- - Xác định Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 753326, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 825.2005.QĐUB- 584.2005 do UBND quận B cấp ngày 23/5/2005 là tài sản chung vợ chồng của bà Bùi Thị Kim D và ông Nguyễn Văn L2 (tức L1).
- - Tài sản chung vợ chồng được chia bằng hiện vật cụ thể như sau:
- Bà Bùi Thị Kim D được Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có giá trị là 6.117.654.516 đồng (Sáu tỷ, một trăm mười bẩy triệu, sáu trăm năm mươi bốn nghìn, năm trăm mười sáu đồng) gồm:
- + Một ngôi nhà 2 tầng 1 tum trên diện tích đất 40,8m² (được giới hạn bởi các điểm (7-8-23-22-7) và diện tích đất sát bên cạnh nhà này có diện tích là 41,7m² (được giới hạn bởi các điểm 20-6-7-22-21-20).
- + Phần diện tích 13m² sử dụng làm lối đi chung (được giới hạn bởi các điểm 21-22-23-11-12-13-14-15-16-21.
- + Phần diện tích 30,2m² đang sử dụng làm lối đi chung giữa các nhà.
-
- Ông Phạm Văn L được Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có giá trị là 12.024.989.600 đồng (Mười hai tỷ, không trăm hai mươi tư triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm đồng), gồm:
- + Một ngôi nhà 2 tầng nằm phía trong và 01 bếp, công trình phụ sát nhà này, diện tích sân bao quanh ngôi nhà trên tổng diện tích đất là 153,7m² (được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-5-6-20-21-16-17-18-19-1).
- + Phần diện tích đất hiện nay ông M đang quản lý, sử dụng và xây nhà trên đó, có diện tích 12,1m² và phần diện tích đất phía trước nhà ông M có diện tích 2,1m² (được giới hạn bởi các điểm 8-9-10-11-23-8).
- + Phần diện tích 13m² sử dụng làm lối đi chung (được giới hạn bởi các điểm 21-22-23-11-12-13-14-15-16-21).
- + Phần diện tích 30,2m² đang sử dụng làm lối đi chung giữa các nhà.
- Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L được quyền sử dụng chung đối với: diện tích đất 13m² dùng làm ngõ đi chung giữa diện tích nhà đất của ông L với bà D như trên (có giá trị 910.000.000đồng) và 30,2m² dùng làm ngõ đi chung của các diện tích nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
- Ông Phạm Văn L được Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có giá trị là 12.024.989.600 đồng (Mười hai tỷ, không trăm hai mươi tư triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm đồng), gồm:
Toàn bộ các diện tích nhà đất trên tại địa chỉ: số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 753326, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 825.2005.QĐUB- 584.2005 do UBND quận B cấp ngày 23/5/2005 cấp cho bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L.
Các diện tích nhà đất nêu trên có sơ đồ kèm theo bản án này.
Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L (tức L1) có trách nhiệm đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để hoàn thiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy định của pháp luật.
- Về các khoản vay nợ: Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm. Ngày 15/8/2024, bị đơn là ông Phạm Văn L (L1) đã làm đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm:
Hủy bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 532/2024/HNGĐ-ST ngày
05/08/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim D giữ nguyên đơn khởi kiện và phần trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Bà đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn kháng cáo của ông L, giữ nguyên nội dung của bản án sơ thẩm.
Bị đơn Ông Phạm Văn L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý ly hôn và không đồng ý chia tài sản là đất cho bà D. Ông đề nghị Hủy kết quả của bản án sơ thẩm để ông bà có thời gian hòa giải, hàn gắn và vì Tòa án Ba Đ2 đưa ra xét xử vụ án ly hôn của ông bà có nhiều vi phạm tố tụng, ông không được nhận bản án sơ thẩm. Ngoài ra, ông chỉ đồng ý hỗ trợ bà D số tiền 01 tỷ 500 triệu đồng để tạo lập nơi ở mới và 01 tỷ đồng để bà D gửi ngân hàng lấy lãi sinh hoạt.
Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sựCác đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim D khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn với ông Phạm Văn L, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ. Ông Phạm Văn L cư trú tại Số A ngõ A H, phường N, quận B, Hà Nội nên Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về hình thức: Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông L nộp trong hạn luật định đúng theo quy định tại Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về yêu cầu Hủy bản án sơ thẩm: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Ông L có mặt tại phiên tòa, sau khi kết thúc phiên tòa, ngày 15/8/2024 ông L đã làm đơn kháng cáo có nội dung đề nghị Hủy không công nhận quyết định của bản án sơ thẩm để ông bà có thời gian hòa giải đoàn tụ, không đồng ý chia tài sản là đất cho bà D. Ngoài những đề nghị nêu trên, ông L không đưa thêm được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L đề nghị Hủy án sơ thẩm.
[3.2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 05/6/1984 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65. Vì vậy xác định đây là là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình. Ông bà cùng xác nhận trong quá trình chung sống, ông bà có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Tại phiên tòa hôm nay, ông L không đưa ra được phương án để níu kéo bà D đoàn tụ. Bà D cương quyết ly hôn do đã không còn tình cảm vợ chồng với ông L, ông bà sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay không chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống hay lúc ốm đau. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L cũng đồng ý ly hôn nếu bà D cương quyết ly hôn. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông bà là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên quyết định như Tòa án cấp sơ thẩm.
[3.2] Về con chung: Bà D, ông L xác nhận ông bà có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc X, sinh ngày 21/10/1984 và Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 18/12/1991. Hai con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên HĐXX không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung:
- Trong thời kỳ hôn nhân, bà Bùi Thị Kim D xác định vợ chồng có tài sản chung và yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung theo tỷ lệ 50/50 gồm nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
Ông Phạm Văn L kháng cáo cho rằng đối với nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H đây là tài sản không phải do vợ chồng ông tạo lập ra nên ông không đồng ý chia
nhà đất cho bà D. Ông sẽ hỗ trợ cho bà D sau khi ly hôn, số tiền khoảng 1.500.000.000 đồng đến 2.500.000.000 đồng để bà D ổn định chỗ ở và sinh sống.
Xét thấy, ông L và bà D kết hôn từ năm 1984 cho đến nay hơn 40 năm. Mặc dù diện tích đất 263,4m2 và tài sản trên đất mà ông L được chia thừa kế trong thời kỳ hôn nhân là của cụ T, cụ N (bố mẹ đẻ của ông L). Tuy nhiên, năm 2005 khi ông L làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên đã để vợ là bà Bùi Thị Kim D cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông L để tên bà D trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện ông L đã đồng ý nhà đất này là tài sản chung của vợ chồng. Mặt khác, sau khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ Trịnh Thị N vẫn còn sống và có biết về việc Giấy chứng nhận đứng tên bà D và ông L, cụ N không có ý kiến phản đối gì, tất cả các anh chị em của ông L cũng biết và không phản đối, khiếu nại gì. Ông L không cung cấp được chứng cứ chứng minh đây là tài sản riêng của ông. Mặt khác, trong quá trình ông L, bà D sống tại nhà đất trên cũng đã có công sức, duy trì và tôn tạo nhà đất do cụ T, cụ N để lại. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà đất trên là tài sản chung của vợ chồng, xem xét nguồn gốc, công sức đóng góp của hai bên trong quá trình duy trì va tôn tạo nhà đất để chia theo hiện trạng thực tế sử dụng và nhu cầu là có căn cứ. HĐXX cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên án sơ thẩm về chia tài sản chung.
[4]. Ý kiến của Viện kiểm sát trùng với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5].Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, bị đơn ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Phạm Văn L là người cao tuổi nên căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 HĐXX miễn án phí cho ông L.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 -12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận kháng cáo bản án của bị đơn ông Phạm Văn L. Giữ nguyên Bản án số 532/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội như sau:
- Căn cứ các Điều 33, 51, 55, 59, 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; các Điều 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Bùi Thị Kim D.
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L (tức L1).
- Về con chung: Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L (tức L1) xác nhận có 02 con chung là Phạm Thị Ngọc X, sinh ngày 21/10/1984 và Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 18/12/1991. Hai con chung đã trưởng thành đủ 18 tuổi, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung:
- - Xác định Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 753326, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 825.2005.QĐUB- 584.2005 do UBND quận B cấp ngày 23/5/2005 là tài sản chung vợ chồng của bà Bùi Thị Kim D và ông Nguyễn Văn L2 (tức L1).
- - Tài sản chung vợ chồng được chia bằng hiện vật cụ thể như sau:
- Bà Bùi Thị Kim D được Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có giá trị là 6.117.654.516 đồng (Sáu tỷ, một trăm mười bẩy triệu, sáu trăm năm mươi bốn nghìn, năm trăm mười sáu đồng) gồm:
- + Một ngôi nhà 2 tầng 1 tum trên diện tích đất 40,8m² (được giới hạn bởi các điểm (7-8-23-22-7) và diện tích đất sát bên cạnh nhà này có diện tích là 41,7m² (được giới hạn bởi các điểm 20-6-7-22-21-20).
- + Phần diện tích 13m² sử dụng làm lối đi chung (được giới hạn bởi các điểm 21-22-23-11-12-13-14-15-16-21.
- + Phần diện tích 30,2m² đang sử dụng làm lối đi chung giữa các nhà.
- Ông Phạm Văn L được Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có giá trị là 12.024.989.600 đồng (Mười hai tỷ, không trăm hai mươi tư triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm đồng), gồm:
- + Một ngôi nhà 2 tầng nằm phía trong và 01 bếp, công trình phụ sát nhà này, diện tích sân bao quanh ngôi nhà trên tổng diện tích đất là 153,7m² (được giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-5-6-20-21-16-17-18-19-1).
- + Phần diện tích đất hiện nay ông M đang quản lý, sử dụng và xây nhà trên đó, có diện tích 12,1m² và phần diện tích đất phía trước nhà ông M có diện tích 2,1m² (được giới hạn bởi các điểm 8-9-10-11-23-8).
- + Phần diện tích 13m² sử dụng làm lối đi chung (được giới hạn bởi các điểm 21-22-23-11-12-13-14-15-16-21).
- + Phần diện tích 30,2m² đang sử dụng làm lối đi chung giữa các nhà.
- Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L được quyền sử dụng chung đối với: diện tích đất 13m² dùng làm ngõ đi chung giữa diện tích nhà đất của ông L với bà D như trên (có giá trị 910.000.000đồng) và 30,2m² dùng làm ngõ đi chung của các diện tích nhà đất tại địa chỉ số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
-
Toàn bộ các diện tích nhà đất trên tại địa chỉ: số A ngõ A H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 753326, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 825.2005.QĐUB- 584.2005 do UBND quận B cấp ngày 23/5/2005 cấp cho bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L.
Các diện tích nhà đất nêu trên có sơ đồ kèm theo bản án này.
Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L (tức L1) có trách nhiệm đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để hoàn thiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy định của pháp luật.
- Về các khoản vay nợ: Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Bùi Thị Kim D và ông Phạm Văn L được miễn nộp tiền án phí.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Phạm Văn L được miễn nộp tiền án phí.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Kim D - Phạm Văn L
