Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦ THỪA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-02-2025

V/v Tranh chấp ly hôn,

nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Tâm
  2. Ông Trịnh Thế Phương Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 333/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXX-HNGĐ, ngày 03/02/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số A Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Dương Ngọc L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số A Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

(Bà Nguyễn Thị Hồng V có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Dương Ngọc L vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:

Bà và ông Dương Ngọc L kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An ngày 08/4/2021. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung về tiền bạc. Ông L không đưa tiền cho bà để chăm lo cho gia đình, hay cãi nhau. Ông L không trao đổi bàn bạc với bà, tự quyết định mọi công việc, không phụ giúp công việc nhà, chăm sóc con cái. Mặc dù còn sống chung nhà nhưng hai người đã không còn quan tâm nhau khoảng hơn 1 năm. Nay không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà và ông L có 01 con chung tên Dương Ngọc Quốc D, sinh ngày 07/3/2022. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Bà đi làm công nhân thu nhập mỗi tháng từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, đủ để nuôi con.

Về nợ chung và tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Dương Ngọc L trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt, không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào và không có văn bản ý kiến phản hồi hay yêu cầu gì đối với việc khởi kiện của bà V, cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, hòa giải nhưng không được do ông L vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng V nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, nuôi con chung với ông Dương Ngọc L. Căn cứ nơi cư trú của bị đơn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa theo quy định tại Điều 28 và Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị Hồng V có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Dương Ngọc L vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nên Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Xét thấy, bà V và ông L là vợ chồng hợp pháp. Nay bà V kiên quyết xin ly hôn với ông L vì không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này. Từ khi Tòa án thụ lý cho đến nay, ông L không cung cấp bản tự khai, không đưa ra giải pháp hàn gắn hôn nhân và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án cho thấy ông L không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Từ đó cho thấy, mục đích trong hôn nhân giữa hai bên là không đạt được, mâu thuẫn trong hôn nhân là trầm trọng nên yêu cầu xin ly hôn của bà V là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung:

Khi ly hôn, bà V yêu cầu được nuôi con chung Dương Ngọc Quốc D sinh ngày 07/3/2022. Xét thấy, cho đến ngày xét xử thì cháu D chưa đủ 36 tháng tuổi. Bà V có công việc ổn định, có thu nhập để nuôi con. Hiện nay, ông L không có phản đối gì đối với yêu cầu được nuôi con chung của bà V. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà V, giao Dương Ngọc Quốc D cho bà V chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông L được quyền đến thăm, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về nợ chung và tài sản chung: Bà V xác định bà và ông L không có nợ chung và tài sản chung. Ông L không có ý kiến về phần nợ chung, tài sản chung. Cho đến khi xét xử sơ thẩm, không có ai khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nợ chung của vợ chồng bà V và ông L. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp về nợ chung, tài sản chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Từ các phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của bà V là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng V về việc “Ly hôn, nuôi con chung” đối với ông Dương Ngọc L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn với ông Dương Ngọc L.
  2. Về con chung:

Giao 01 con chung tên Dương Ngọc Quốc D, sinh ngày 07/3/2022 cho bà Nguyễn Thị Hồng V nuôi dưỡng, chăm sóc.

Ông Dương Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị Hồng V không yêu cầu.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm, chăm sóc người con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009358, ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị Hồng V đã nộp đủ án phí.

Ông Dương Ngọc L không phải chịu án phí.

  1. Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc từ ngày niêm yết bản án.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - CCTHADS huyện Thủ Thừa;
  • - VKSND huyện Thủ Thừa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Thủ Thừa;
  • - Lưu hồ sơ, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Mỹ Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng V -ly hôn- Dương Ngọc L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger