|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 20/2025/ST - HNGĐ Ngày 26 - 02 - 2025. V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hiền, ông Trần Doãn Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 172/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Ý, sinh năm 1978
Bị đơn: Chị Trịnh Thị B, sinh năm 1980
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện C, tỉnh Nghệ An. Anh Ý có mặt, chị B vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Ý trình bày: Anh với chị Trịnh Thị B kết hôn với nhau vào ngày 12/02/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do quan điểm sống không phù hợp, vợ, chồng không tôn trọng nhau, thường xuyên xẩy ra cái vã. Việc vợ, chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả và vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2020 đến nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trịnh Thị B.
Về con chung: Anh và chị Trịnh Thị B có 02 người con chung với nhau là Nguyễn Văn A, sinh ngày 30/5/2002 (Đã chết) và Nguyễn Thị Cẩm Y, sinh ngày 04/02/2016. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cháu Cẩm Y và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh và chị Trịnh Thị B không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập chị Trịnh Thị B nhiều lần, nhưng chị B không có mặt vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các thủ tục tố tụng liên quan đến vụ án tại Nhà văn hóa thôn T và UBND xã Y để chị Trịnh Thị B biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm chị Trịnh Thị B vắng mặt và không có ý kiến gì.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho anh Nguyễn Văn Ý được ly hôn chị Trịnh Thị B, giao con chung cho anh Nguyễn Văn Ý nuôi dưỡng, về tài sản anh Ý không yêu cầu nên không xem xét, anh Ý phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại xã Y, huyện C nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 18/02/2025 bị đơn chị Trịnh Thị B vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên toà, trong Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án có ấn định thời gian mở lại phiên tòa để chị Trịnh Thị B biết nhưng chị B vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Trịnh Thị B là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Ý và chị Trịnh Thị B có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện C, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do anh Ý và chị B không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau, thường xuyên xẩy ra cãi vã. Qua xác minh tại xã Y được biết chị B đi làm ăn xa ít khi về nhà, không quan tâm đến gia đình, chồng con. Theo anh Ý việc vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2020 đến nay. Xét tình cảm vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn Ý và chị Trịnh Thị B thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Ý là có căn cứ.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn Ý và chị Trịnh Thị B có 02 người con chung với nhau là Nguyễn Văn A, sinh ngày 30/5/2002 (Đã chết) và Nguyễn Thị Cẩm Y, sinh ngày 04/02/2016. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cháu Cẩm Y và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết cháu Cẩm Y có nguyện vọng được ở với bố. Xét nguyện vọng của anh Ý và cháu Cẩm Y là hợp lý, hơn nữa hiện nay chị B không có mặt tại địa phương. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho con khi bố mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Nguyễn Thị Cẩm Y cho anh Nguyễn Văn Ý trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Ý không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn Ý không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay anh không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau này chị Trịnh Thị B có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn Ý phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; các Điều 81, 82, 83 và Điều 84, của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn Ý được ly hôn chị Trịnh Thị B.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Cẩm Y, sinh ngày 04/02/2016 cho anh Nguyễn Văn Ý nuôi dưỡng cho đến khi cháu Cẩm Y đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Trịnh Thị B có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Văn Ý phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh Ý đã nộp 300.000 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000749 ngày 27/11/2024. Anh Ý H đã nộp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |
Bản án số 20/2025/ST - HNGĐ ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 20/2025/ST - HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
