TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày: 26/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Minh
Ông Lê Văn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Duy Ngọc Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 197/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Lê Văn Anh T
, sinh ngày 16/10/1992, tại tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, Tiền Giang; nghề nghiệp: Không nghề ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 ( chết) và bà Phan Thị N ; A, chị ruột: 04 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1991; vợ: Trà Thị Thúy N1; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2022;, nhỏ nhất sinh năm 2024;
Nhân thân:
+ Ngày 31/7/2012 bị Công an xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 33/XPHC.
+ Ngày 22/4/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung 03 năm tù theo Bản án số 104/2013/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2015, chấp hành xong án phí ngày 15/12/2015.
+ Ngày 23/11/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Tài sản trộm là 55.250.000 đồng), tại bản án số 134/2017/HSPT.
+ Ngày 05/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 01/2018/HS-ST (Tài sản trộm là 24.400.000 đồng). Tổng hợp hình phạt của 02 bản án số 134/2017/HSPT và bản án số 01/2018/HS-ST, buộc bị can T phải chịu hình phạt chung là 04 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2020, chấp hành xong án phí ngày 23/01/2018.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 18/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Phan Quốc T2
, sinh ngày 06/6/2005, tại tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tiền G; nghề nghiệp: không ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Thanh S và bà Nguyễn Thị T3; Anh ruột: 01 người, sinh năm 2003 ; Vợ: Nguyễn Thị Thu T4; Con: 01 người con sinh năm 2023;Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 18/9/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người tham gia tố tụng khác:
* Người bị hại:
Trần Thế H, sinh năm 1978 ( vắng mặt)
HKTT: ấp P, xã P, huyện B, Bến Tre.
Tạm trú: Ấp T, thị trấn T, huyện C, Tiền Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Võ Thị N2, sinh năm 1971 ( vắng mặt)
HKTT: Tổ E, khu phố G, phường Đ, thành phố T, Bình Dương.
- Trà Thị Thúy N1, sinh năm 1996 (có mặt)
HKTT: Ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang.
- Nguyễn Thị T3, sinh năm 1974 ( có mặt)
HKTT: Ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang.
- Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 2004 ( có mặt)
HKTT: Ấp L, xã L, huyện C, Tiền Giang.
- Nguyễn Thành S1, sinh năm 1994 ( vắng mặt)
HKTT: ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang.
- Nguyễn Văn Bé B, sinh năm 1978 ( vắng mặt)
HKTT: ấp C, xã T, huyện C, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/6/2024 Lê Văn Anh T đến nhà của Phan Quốc T2, tọa lạc: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang rủ T2 đi tìm tài sản để trộm, thì T2 đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Sonic màu đỏ, biển số 63AC-100.77 chở T lưu thông trên QL1A hướng về Khu công nghiệp T, khi đến chợ T5 thì rẽ vào chợ L1 trên đường L Cũ hướng về ngã ba P. Lúc này, T phát hiện một xe mô tô hai bánh, hiệu YAMAHA, loại Sirius màu đen, biển số 63R1-8089 của anh Trần Thế H, sinh năm 1978, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để bên trong xưởng tôn T, tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang không ai trông coi. T kêu T2 dừng xe, T2 dừng xe cách xưởng tôn khoảng 15m để cảnh giới, T đi xuống xe dùng đoạn sắt đem theo bẻ khóa cửa rào và đi vào bên trong xưởng tôn dẫn xe 63R1-8089 đi ra, T lên xe 63R1-8089 để T2 điều khiển xe Sonic đẩy đi về hướng chợ T5. Khi đến gần chợ T rẻ vào đường dal rồi kêu T2 về trước. T xuống xe tháo dây mát và khởi động được xe rồi chạy nhà của T2. Tại đây, T và T2 mở cốp xe kiểm tra thì thấy bên trong có căn cước công dân, giấy tờ xe và thẻ ngân hàng. Sau đó, T và T2 tháo biển số 63R1-8089, dùng búa đục số khung của xe, biển số 63R1-8089 và các giấy tờ bên trong xe thì T vứt bỏ, rồi cả hai điều khiển xe trộm được đến gửi tại nhà Nguyễn Văn Bé B (B), sinh năm 1978, nơi thường trú: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Đến sáng ngày 07/06/2024, T và T2 quay lại nhà anh Nguyễn Văn B1 Ba lấy xe trộm đã gửi chạy đến nhà của anh Nguyễn Thanh S2 (Sang B2), sinh năm 1994, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nơi tạm trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang) cầm cho S2 được 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng rồi cả hai chia nhau tiêu xài hết. Đến ngày 12/9/2024, anh Trần Thế H trình báo đến Cơ quan Công an.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐG ngày 14/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận:
- Tài sản thu hồi được là một xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn: xám đen, xe không gắn biển số, số khung: bị đục xóa, không đọc được, số máy: 5C64252356 có giá 5.000.000 đồng.
- Tài sản không thu hồi được là 01 biển số xe 63R1-8089. Bị hại trình bày do cơ quan chức năng cấp cùng xe, có giá trị thấp nên Hội đồng định giá không có cơ sở xác định được giá trị.
Tại kết luận giám định số 1200/KL-KTHS(Đ2) ngày 22/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số khung trước giám định: đục xóa, số khung sau giám định: RLCS5C640AY252355; Số máy: 5C64-252356 trước và sau giám định không đổi.
Anh Nguyễn Văn Bé B là người cho T và T2 gửi xe; Anh Nguyễn Thành S1 là người cầm xe của T và T2.
* Thu giữ vật chứng:
- 01 (một) đĩa DVD có chứa 03 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của người dân ghi lại toàn bộ diễn biến T và T2 trộm cắp tài sản vào 06/6/2024 (Kèm hồ sơ vụ án).
- 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu YAMAHA, loại Sirius màu đen,
- - Biển số 61B2-00.65
- 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Sonic màu đỏ, biển số 63AC- 130.77.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A53, kiểu máy CPH2127, màu xanh.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSCT ngày 26/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Lê Văn Anh T và bị cáo Phan Quốc T2 về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn Anh T và bị cáo Phan Quốc T2 về tội “ Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt:
- Về vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn Anh T và bị cáo Phan Quốc T2 phạm tội " Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Anh T từ 15 đến 18 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Quốc T2 từ 06 đến 09 tháng tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ L vào hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD có chứa 03 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của người dân ghi lại toàn bộ diễn biến T và T2 trộm cắp tài sản vào 06/6/2024
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy biển số 61B2-00.65.
Không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh Đ, Bùi Bảo Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/6/2024 Lê Văn Anh T đến nhà của Phan Quốc T2, rủ T2 đi tìm tài sản để trộm, thì T2 đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Sonic màu đỏ, biển số 63AC-100.77 chở T lưu thông trên QL1A hướng về Khu công nghiệp T, khi đến chợ T5 thì rẽ vào chợ L1 trên đường L Cũ hướng về ngã ba P. Lúc này, T phát hiện một xe mô tô hai bánh, hiệu YAMAHA, loại Sirius màu đen, biển số 63R1-8089 của anh Trần Thế H để bên trong xưởng tôn Tân Phú H1 không ai trông coi. T kêu T2 dừng xe, T2 dừng xe cách xưởng tôn khoảng 15m để cảnh giới, T đi xuống xe dùng đoạn sắt đem theo bẻ khóa cửa rào và đi vào bên trong xưởng tôn dẫn xe 63R1-8089 đi ra, T lên xe 63R1-8089 để T2 điều khiển xe Sonic đẩy đi về hướng chợ T5. Khi đến gần chợ T rẻ vào đường dal rồi kêu T2 về trước. T xuống xe tháo dây mát và khởi động được xe rồi chạy nhà của T2. Tại đây, T và T2 mở cốp xe kiểm tra thì thấy bên trong có căn cước công dân, giấy tờ xe và thẻ ngân hàng. Sau đó, T và T2 tháo biển số 63R1-8089, dùng búa đục số khung của xe, biển số 63R1-8089 và các giấy tờ bên trong xe thì T vứt bỏ, rồi cả hai điều khiển xe trộm được đến gửi tại nhà Nguyễn Văn Bé B (B),
Đến sáng ngày 07/06/2024, T và T2 quay lại nhà anh Nguyễn Văn B1 Ba lấy xe trộm đã gửi chạy đến nhà của anh Nguyễn Thanh S2 cầm cho S2 được 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng rồi cả hai chia nhau tiêu xài hết. Đến ngày 12/9/2024, anh Trần Thế H trình báo đến Cơ quan Công an.
- [3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữ tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo hoàn toàn có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
- [4] Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo Lê Văn Anh T có nhân thân xấu: Ngày 31/7/2012 bị Công an xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 33/XPHC; Ngày 22/4/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung 03 năm tù theo Bản án số 104/2013/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2015, chấp hành xong án phí ngày 15/12/2015; Ngày 23/11/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Tài sản trộm là 55.250.000 đồng), tại bản án số 134/2017/HSPT; Ngày 05/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 01/2018/HS-ST (Tài sản trộm là 24.400.000 đồng). Tổng hợp hình phạt của 02 bản án số 134/2017/HSPT và bản án số 01/2018/HS-ST, buộc bị can T phải chịu hình phạt chung là 04 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2020, chấp hành xong án phí ngày 23/01/2018. Đối với Bị cáo Phan Quốc T2, bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự.
- [5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhe: Bị cáo Lê Văn Anh T và Phan Quốc T2 không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, các bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Phan Quốc T2 còn có thêm một tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng.
- [6] Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T khi phạm tội với vai trò là người trực tiếp thực hiện hành vi và là người rủ rê nên hình phạt có phần nghiêm khắc hơn. Bị cáo T2 chỉ là người cảnh giới, giúp sức.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự :
- - 01 (một) đĩa DVD có chứa 03 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của người dân ghi lại toàn bộ diễn biến T và T2 trộm cắp tài sản vào 06/6/2024 nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.
- - 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu YAMAHA, loại Sirius màu đen. Qua kết quả tra cứu thông tin dữ liệu do anh Đặng Danh P đứng tên chủ sở hữu. Anh P khai đã bán xe này cách nay vài tháng với giá 6.000.000 đồng, không làm giấy mua bán và chưa sang tên chủ sở hữu. Anh Trần Thế H mua lại xe trên để sử dụng rồi bị T và T2 lấy trộm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả xe anh H xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với biển số 61B2-00.65 là của xe hiệu Vario 125, màu đỏ đen, do chị Võ Thị N2 đứng tên chủ sở hữu. Chị N2 khai quá trình sử dụng xe trên thì bị rớt mất biển số xe, hiện tại đã làm lại biển số mới nên chị không có yêu cầu nhận lại. Biển số xe trên không còn giá trị sử dụng, chị N2 cũng không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Sonic màu đỏ, biển số 63AC- 130.77. Đây là xe của chị Nguyễn Thị Thu T4 đứng tên chủ sở hữu, việc T2 lấy xe đi trộm cắp tài sản chị T4 hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị T4 xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A53, kiểu máy CPH2127, màu xanh. Đây là tài sản cá nhân của Phan Quốc T2 không liên quan đến hành vi phạm tội, T2 yêu cầu trả lại điện thoại trên cho mẹ ruột của T2, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho mẹ của T2 xong. nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với anh Nguyễn Văn Bé B là người cho bị cáo T gửi xe, anh Nguyễn Thành S1 là người cầm xe. Anh Bé B và anh S1 không biết xe trên là do các bị cáo trộm, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm dân sự là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- [10] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng và đề nghị mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt:
- Về vật chứng:
- Về án phí:
- Quyền kháng cáo:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn Anh T và bị cáo Phan Quốc T2 phạm tội " Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Anh T 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 12/9/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Phan Quốc T2 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 12/9/2024.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy biển số 61B2-003.65
( Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025 )
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Võ Thị Thu Ngân |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo: Lê Văn Anh T và Phan Quốc T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
