Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Hưng Quang

+ Bà: Trần Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhật Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 và ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025; theo Quyết định tạm ngưng phiên tòa số: 06/2025/HSST-QĐ ngày 19/02/2025 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Võ Văn B, Giới tính: Nam; sinh ngày: 05/4/1994, tại tỉnh : Bình Thuận; Nơi thường trú và chổ ở hiện nay: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Võ Văn L, sinh năm: 1966 và mẹ: Lê Thị Đ, sinh năm 1963 (đều đã chết); A, chị, em ruột: có 02 người; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình hoạt động nhân thân:

Tại bản án số 34/2013/HSST ngày 08/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã xử phạt Võ Văn B 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/8/2017 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T (bị cáo mặt tại phiên tòa).

2/ Họ và tên: Nguyễn Văn T, Giới tính: Nam; sinh ngày: 13/7/1992, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Ở hiện nay: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động biển; Cha: Nguyễn Văn V, sinh năm: 1977 (đã chết) và mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; A, chị, em ruột: có 03 người; Vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1996; Con: 02 người con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam vào ngày 10/10/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T (bị cáo mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng: Lâm Văn N2, sinh năm 1991.

Địa chỉ khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, Công an thị trấn P, huyện T tiến hành tuần tra kiểm soát tại địa bàn thị trấn P, khi đi đến đến đường L thuộc khu phố G, thị trấn P thì phát hiện Lâm Văn N2 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện bắt quả tang Lâm Văn N2 có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thu giữ trên tay trái của N2 đang cầm 01 gói giấy bạc, bên trong có 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm, bên trong có chứa chất rắn dạng nén (được ký hiệu giám định là mẫu M1) và N2 khai nhận chất rắn dạng nén là ma túy loại Heroine của N2 vừa mua được từ một người thanh niên không rõ tên, nhân thân lai lịch tại khu vực Xóm C thuộc thị trấn P, huyện T vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 28/9/2024 với số tiền 80.000 đồng, cất giấu để sử dụng cá nhân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang thu giữ. Thu giữ của N2 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng biển số 86B1-17201.

Tiếp đến, vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 28/9/2024, Công an thị trấn P tiến hành tuần tra đến khu dân cư thuộc khu phố M, thị trấn P thì phát hiện 01 đối tượng đang điều khiển xe mô tô có biển kiểm soát 86C1-199.76 chở theo con nhỏ ngồi phía trước có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra xác định người thanh niên này có tên Nguyễn Văn T. Qua kiểm tra, phát hiện bắt quả tang T đang có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Scott, bên trong có 02 gói giấy bạc được cuộn lại. Kiểm tra bên trong 02 gói giấy bạc trên có 01 đoạn ống nhựa màu đỏ (được ký hiệu giám định là mẫu M2) và 01 đoạn ống nhựa màu tím (được ký hiệu giám định là mẫu M3), cả hai đoạn ống nhựa này đều được hàn kín hai đầu, kích thước giống nhau khoảng (2,4 x 01)cm, bên trong 02 đoạn ống nhựa trên đều có chứa chất rắn dạng nén. Nguyễn Văn T khai nhận chất rắn dạng nén bên trong 02 đoạn ống nhựa đó là ma túy loại Heroin của T vừa mua được từ một người thanh niên không rõ tên, nhân thân lai lịch tại khu vực Xóm C thuộc thị trấn P, huyện T vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/9/2024 với số tiền 180.000 đồng, cất giấu với mục đích sử dụng. Thu giữ của T 01 xe mô tô có biển kiểm soát 86C1-199.76. Cùng ngày 28/9/2024 Nguyễn Văn T đã tự nguyện giao nộp 01 cà vẹt xe mô tô mang tên Nguyễn Văn T.

Tại công an thị trấn Phan Rí C1, Lâm Văn N2 và Nguyễn Văn T khai nhận heroine thu giữ là N2 và T mua của một người thanh niên ở đường B thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T.

Tiến hành rà soát hệ thống camera an ninh tại đoạn đường B thì xác định vị trí N2 và T mua ma túy là trước mặt số nhà 100/37 trên đường B thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T và đối tượng bán ma túy cho N2 và T là Võ Văn B.

Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện T tiến hành mời B về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra xác định: Cách ngày 28/9/2024 khoảng 01 tuần (tức ngày 21/9/2024) B đi vào thành phố Hồ Chí Minh gặp 01 người thanh niên (không rõ lai lịch) mua 25 tép heroine với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì B đưa về nhà của B để cất giấu. Trong quá trình cất giấu thì B đã sử dụng hết 04 tép heroine, số ma túy còn lại B cất giấu để bán cho người nghiện để thu lợi cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào chiều ngày 28/9/2024 B lấy 03 tép heroine cất giấu ở hàng rào gỗ gần vị trí B ngồi còn 18 tép heroine B cất giấu bên trong căn nhà hoang số A đường B. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày 28/9/2024, B đang ngồi trên ghế nhựa màu đỏ ở góc đường giao nhau giữa đường B và đường T thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T thì Lâm Văn N2 điều khiển xe mô tô chạy đến gặp B hỏi mua 01 tép heroine thì B đồng ý và đi đến hàng rào gỗ phía sau lưng vị trí B ngồi lấy 01 tép herine đưa cho N2. N2 đưa cho B 80.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày 28/9/2024, B đang ngồi trên ghế nhựa màu đỏ ở góc đường giao nhau giữa đường B và đường T thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T thì Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô chạy đến gặp B hỏi mua 02 tép heroine thì B đồng ý và đi đến hàng rào gỗ phía sau lưng vị trí B ngồi lấy 02 tép herine đưa cho T. T đưa cho B 180.000 đồng.

Ngoài ra, B đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra 260.000 đồng (đây là số tiền Bình bán ma túy cho N2 và T) và khai nhận đang cất giấu số heroine còn lại tại số nhà A trên đường B. Sau đó, B chỉ dẫn Cơ quan cảnh sát điều tra đến vị trí cất giấu ma túy là căn nhà số A, tại vị trí trong góc vách tường bên phải nhìn từ ngoài vào cách cổng nhà khoảng 80cm mà B đã chỉ dẫn phát hiện, thu giữ 01 hộp nhựa trong suốt kích thước khoảng 4,5cm x 4,5cm x 02cm, bên trong hộp nhựa có 18 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 2,4cm x 01cm, trong đó có 11 đoạn ống nhựa màu đỏ, 03 đoạn ống nhựa màu vàng, 02 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương và 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây (được ký hiệu giám định là mẫu M4), bên trong các đoạn ống nhựa đều có chứa chất rắn dạng nén.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Lâm Văn N2:

Thu giữ trên tay trái của N2 đang cầm 01 gói giấy bạc, bên trong có 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm, bên trong có chứa chất rắn dạng nén (được ký hiệu giám định là mẫu M1).

01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius, biển số 86B1-172.01 thu giữa của Lâm Văn N2, đây là xe mô tô của Lâm Thị Thu N3 cho N2 mượn, N3 không biết N2 mượn xe của N3 sử dụng xe vào việc phạm tội.

- Thu giữ của Nguyễn Văn T:

Thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Scott, bên trong có 02 gói giấy bạc được cuộn lại. Kiểm tra bên trong 02 gói giấy bạc trên có 01 đoạn ống nhựa màu đỏ (được ký hiệu giám định là mẫu M2) và 01 đoạn ống nhựa màu tím (được ký hiệu giám định là mẫu M3), cả hai đoạn ống nhựa này đều được hàn kín hai đầu, kích thước giống nhau khoảng (2,4 x 01)cm, bên trong 02 đoạn ống nhựa trên đều có chứa chất rắn dạng nén.

01 xe mô tô có biển kiểm soát 86C1-199.76 và 01 cà vẹt xe số 024906 cấp ngày 29/10/2014 đứng tên Nguyễn Văn T.

- Thu giữ của Võ Văn B:

Thu giữ 01 hộp nhựa trong suốt kích thước khoảng 4,5cm x 4,5cm x 02cm, bên trong hộp nhựa có 18 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 2,4cm x 01cm, trong đó có 11 đoạn ống nhựa màu đỏ, 03 đoạn ống nhựa màu vàng, 02 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương và 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây (được ký hiệu giám định là mẫu M4), bên trong các đoạn ống nhựa đều có chứa chất rắn dạng nén.

B đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra 260.000đồng (đây là số tiền Bình bán ma túy cho N2 và T).

Tại Bản kết luận giám định số số 1262/KLGĐ-PC09 ngày 06/10/2024 của Phòng ký thuật hình sự - Công an tỉnh B kết luận:

  • Mẫu M1 gửi đến giám định có khối lượng 0,0757 gam là Heroine.
  • Mẫu M2 gửi đến giám định có khối lượng 0,0679 gam là Heroine.
  • Mẫu M3 gửi đến giám định có khối lượng 0,0681 gam là Heroine.
  • Mẫu M4 gửi đến giám định có khối lượng 1,2092 gam là Heroine.

Như vậy, Lâm Văn N2 đã tàng trữ Heroine có khối lượng 0,0757 gam. Nguyễn Văn T đã tàng trữ Heroine có khối lượng 0,1360 gam. Võ Văn B đã 02 lần bán 03 tép heroine cho Lâm Văn N2 và Nguyễn Văn T có tổng khối lượng 0,2117 gam và đang cất giấu 18 tép Heroine có tổng khối lượng 1,2092 gam để bán cho người nghiện.

Đối với Lâm Văn N2 đã có hành vi tàng trữ 0,0757 gam heroine, tuy nhiên không đủ định lượng để cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, N2 không có tiền án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về các tội liên quan đến ma túy nên hành vi của N2 không cấu thành tội phạm. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã sao trích hồ sơ chuyển Công an huyện T xử lý vi phạm hành chính đối với N2 theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSTP-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Võ Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 09/CT-VKSTP-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Võ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,
  • Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Văn B mức án từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2024.
  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Đề nghị áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/10/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị:
  • + Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm:
  • 01 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu, 0,0139 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
  • 01 vỏ thuốc lá hiệu SCOTT, 02 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ và 01 đoạn ống nhựa màu tím, đều được hàn kín hai đầu, kích thước mỗi đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 đoạn ống nhựa màu tím, được hàn kín hai đầu, kích thước đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Mẫu M2 và M3 đều đã được phân tích hết);
  • 01 hộp nhựa trong suốt kích thước khoảng 4,5cm x 4,5cm x 02cm, 18 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa kích thước khoảng 2,4cm x 01cm, gồm 11 đoạn ống nhựa màu đỏ, 03 đoạn ống nhựa màu vàng, 02 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương và 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây, đều đã cắt lấy mẫu và 1,1273 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha loại Nouvo biển số 86C1-199.76 và 01 cà vẹt xe số 024906 cấp ngày 29/10/2014 đứng tên Nguyễn Văn T (thu giữ của Nguyễn Văn T).
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 260.000 đồng thu giữ của Võ Văn B (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002790 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuy Phong.

- Các bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

- Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã truy tố

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ tang vật chứng; Kết luận giám định chất ma tuý; Biên bản đối chất... Các bị cáo khẳng định những lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và Cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra vào khoảng hơn 16 giờ 30 phút ngày 28/9/2024 tại khu phố M và khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận do Võ Văn B đã 02 lần bán 03 tép Heroine cho Lâm Văn N2 và Nguyễn Văn T thu lợi 260.000đồng và đang cất giấu 1,2092 gam heroine với mục đích sử dụng và bán cho người nghiện. Còn Nguyễn Văn T đã tàng trữ 02 tép Heroine có khối lượng 0,1360 gam với mục đích sử dụng.

Hành vi của bị cáo Võ Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Riêng Nguyễn Văn T đã 01 lần tàng trữ 02 tép Heroine có khối lượng 0,1360 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng số 09/CT-VKSTP-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Võ Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm về hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng các bị cáo vẫn coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần áp dụng chế tài xử phạt các bị cáo nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

[4] Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng khi lượng hình phạt đối với các bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Tại giai đoạn điều tra: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã giao trả 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius, biển số 86B1-172.01 thu giữa của Lâm Văn N2, đây là xe mô tô của Lâm Thị Thu N3 cho N2 mượn, N3 không biết N2 mượn xe của N3 sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Lâm Thị Thu N3 theo quy định pháp luật.

· Đối với toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm:

01 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu, 0,0139 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 vỏ thuốc lá hiệu SCOTT, 02 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ và 01 đoạn ống nhựa màu tím, đều được hàn kín hai đầu, kích thước mỗi đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 đoạn ống nhựa màu tím, được hàn kín hai đầu, kích thước đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Mẫu M2 và M3 đều đã được phân tích hết); 01 hộp nhựa trong suốt kích thước khoảng 4,5cm x 4,5cm x 02cm, 18 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa kích thước khoảng 2,4cm x 01cm, gồm 11 đoạn ống nhựa màu đỏ, 03 đoạn ống nhựa màu vàng, 02 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương và 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây, đều đã cắt lấy mẫu và 1,1273 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B. Xét, đây là vật thuộc những vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 260.000đồng thu giữ của Võ Văn B (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Xét, đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Nouvo biển số 86C1-199.76 và 01 cà vẹt xe thu giữ của Nguyễn Văn T. Đây là tài sản của T, là phương tiện Nguyễn Văn T dùng vào việc phạm tôi nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước là phù hợp.

[6] Riêng người thanh niên ở thành phố Hồ Chí Minh đã bán Heroine cho Võ Văn B, do không rõ nhân thân lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Võ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn B 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2024.

2. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 năm 10 năm 2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm:

  • .01 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu, 0,0139 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
  • .01 vỏ thuốc lá hiệu SCOTT, 02 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ và 01 đoạn ống nhựa màu tím, đều được hàn kín hai đầu, kích thước mỗi đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 đoạn ống nhựa màu tím, được hàn kín hai đầu, kích thước đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Mẫu M2 và M3 đều đã được phân tích hết);
  • .01 hộp nhựa trong suốt kích thước khoảng 4,5cm x 4,5cm x 02cm; 18 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa kích thước khoảng 2,4cm x 01cm, gồm 11 đoạn ống nhựa màu đỏ, 03 đoạn ống nhựa màu vàng, 02 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương và 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây, đều đã cắt lấy mẫu và 1,1273 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha loại Nouvo biển số 86C1-199.76 và 01 cà vẹt xe số 024906 cấp ngày 29/10/2014 đứng tên Nguyễn Văn T.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 260.000đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của Võ Văn B theo biên lai thu số 0002790 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuy Phong.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Võ Văn B và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai có mặt các bị cáo, các bị cáo Võ Văn B và Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/02/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - Công an huyện Tuy Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hải Âu

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: . Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Tuyên bố bị cáo Võ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Võ Văn B 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2024. 2. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 năm 10 năm 2024. 3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: .01 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu xanh, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng (01 x 02)cm, đã cắt lấy mẫu, 0,0139 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; .01 vỏ thuốc lá hiệu SCOTT, 02 gói giấy bạc, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ và 01 đoạn ống nhựa màu tím, đều được hàn kín hai đầu, kích thước mỗi đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 đoạn ống nhựa màu tím, được hàn kín hai đầu, kích thước đoạn khoảng (2,4 x 01)cm, đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Mẫu M2 và M3 đều đã được phân tích hết); .01 hộp nhựa trong suốt kích thước khoảng 4,5cm x 4,5cm x 02cm; 18 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa kích thước khoảng 2,4cm x 01cm, gồm 11 đoạn ống nhựa màu đỏ, 03 đoạn ống nhựa màu vàng, 02 đoạn ống nhựa màu tím, 01 đoạn ống nhựa màu xanh dương và 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây, đều đã cắt lấy mẫu và 1,1273 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1262/3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B. - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha loại Nouvo biển số 86C1-199.76 và 01 cà vẹt xe số 024906 cấp ngày 29/10/2014 đứng tên Nguyễn Văn T. (Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong). -Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 260.000đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của Võ Văn B theo biên lai thu số 0002790 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuy Phong.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger