|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 25/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Dũng Nhân;
2. Ông Hoàng Ngọc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 08/3/2000, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông vô danh (không xác định), con bà Nguyễn Thị H; có chồng Nguyễn Minh T (là bị cáo trong vụ án) và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ từ ngày 24/6/2024 (theo Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số: 259/L-ĐCSHS-KTMT, ngày 24/6/2024) đến ngày 02/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Minh T, sinh ngày 13/02/1995, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, nơi cư trú hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị L; có vợ Nguyễn Thị Kim A (là bị cáo trong vụ án) và chưa có con; tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 120/2014/HSPT, ngày 14/8/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 2 Điều 104; điển b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999: Xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2016, chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự); tiền sự: Có 01 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 11/QĐ-XPHC, ngày 12/02/2024 Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 400.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành nộp phạt ngày 01/3/2024; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/6/2024 (theo Quyết định tạm giữ số: 739/QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 23/6/2024) đến ngày 02/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; cư trú tại: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 23/6/2024, Nguyễn Hoàng S1, sinh năm 2001 ngụ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh điện thoại cho Nguyễn Thị Kim A (vợ của Nguyễn Minh T) hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng để sử dụng, thì Kim A đồng ý hẹn S1 10 phút sẽ bán. Kim A điện thoại cho người tên N (chưa xác định được nhân thân lai lịch) bán bánh tráng gần khu vực Cây xăng S thuộc ấp H, xã T, huyện T hỏi mua 300.000 đồng ma túy, thì N đồng ý bán và hẹn gặp nhau tại khu vực nhà yến đường vào nhà T thuộc ấp H, xã T để giao dịch mua bán. Sau đó, Kim A điều khiển xe mô tô biển số 70K4-7298 đến điểm hẹn mua của N mua 01 tép ma túy giá 300.000 đồng mang về nhà dự định phân ra một ít ma túy để sử dụng cùng với Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Số còn lại bán cho S1, do S1 tiếp tục điện thoại nên Kim A chưa kịp chiết ra để lại sử dụng, Kim A lấy tép ma túy vừa mua bỏ vào gói thuốc lá Hero đưa T đi giao ma túy cho S1 nhận số tiền 300.000 đồng. Do T và Kim A là vợ chồng, biết Kim A thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên khi Kim A kêu đi giao ma túy thì T đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 70K4-7298 đi đến khu vực đường đất ở bụi tre cách nhà của Trương khoảng 200m bán ma túy cho S1 lấy số tiền 300.000 đồng, mang về nhà đưa cho Kim A.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Kim A tiếp tục nhận điện thoại của Nguyễn Duy K, sinh năm 1993, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh hỏi mua 500.000 đồng ma túy để sử dụng thì Kim A đồng ý bán và tiếp tục gọi điện thoại cho N hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì N đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy, Kim A mang về nhà chiết 02 tép ma túy (02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu) vừa mua ra một ít để lại sử dụng và dùng băng dính 02 mặt dán 02 ống nhựa ma túy vào tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng tiếp tục đưa cho T đi bán ma túy và nói là đưa hết cho K gọi là tiền thối vì thỏa thuận trước đó K sẽ đưa cho Kim A 600.000 đồng. Trương tiếp tục điều kiển xe mô tô biển số 70K4-7298 đến địa điểm bán ma túy cho K, trong lúc bán ma túy cho K, do không đủ tiền nên K đưa cho T số tiền 300.000 đồng để mua 01 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa chất ma túy vì xe bị hỏng nên không đủ tiền mua, T đồng ý bán ma túy cho K thì bị Công an huyện T phối hợp Công an xã T bắt quả tang lúc 16 giờ 25 phút cùng tang vật, riêng 01 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa chất ma túy còn lại T cất giữ trong lúc bắt quả tang bị mất không tìm được tại hiện trường.
Trong lúc Trương đi bán ma túy cho K thì Kim A cùng Nguyễn Văn T1 ở nhà chuẩn bị sử dụng ma túy thì dụng cụ sử dụng bị rơi vỡ, chưa kịp sử dụng thì có lực lượng Công an đưa T về nhà khám xét. Khi phát hiện có Công an vào nhà, Kim A đổ hết ma túy ra sàn nhà dùng nước dội trôi hết và cất giấu dụng cụ nên khi khám xét nhà của Kim A chỉ thu được một số dụng cụ khác dùng để sử dụng ma túy.
Ngoài 02 lần phạm tội trên, Kim A và T còn bán ma túy nhiều lần cụ thể như sau:
- - Ngày 22/6/2024, Kim A bán 01 tép ma túy với giá tiền 300.000 đồng cho Nguyễn Hoàng S1 tại nhà của Kim A.
- - Ngày 10/6/2024 và 15/6/2024, Kim A đưa ma túy cho T đi bán cho Nguyễn Duy K 02 lần, mỗi lần 01 tép với giá tiền 300.000 đồng trên địa phận xã T.
- - Khoảng tháng 11/2023 (không xác định được ngày), Kim A 01 lần bán 01 tép ma túy với giá tiền 250.000 đồng cho Trần Văn T2, sinh năm 2006, ngụ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- - Khoảng trước tết năm 2024 (không nhớ ngày tháng cụ thể), Kim A đưa ma túy cho T bán cho Võ Tiến D, sinh ngày 23/02/2007 ngụ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 02 lần, mỗi lần 01 tép với giá tiền 200.000 đồng. Sau tết năm 2024 (không nhớ ngày tháng cụ thể), bán ma túy cho D 01 lần 01 tép với giá tiền 200.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Văn T1 trình bày các ngày bị bắt 23/6/2024 khoảng 10 ngày, Kim A bán 01 tép ma túy cho T1 với giá tiền 200.000 đồng trên địa phận xã T nhưng Kim A không thừa nhận cũng như không có chứng cứ khác chứng minh Kim A bán cho T1.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Minh T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đồng thời tự thú khai nhận các lần phạm tội trước đó chưa bị phát hiện.
* Tại Kết luận giám định số: 127/KL-KTHS ngày 02/07/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M) bên trong 01 (một) đoạn ống hút được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0350gam (không phẩy không ba năm không gam).
* Tại Kết luận số: 1724/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T có kết luận: 05 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 500.000 đồng có seri: EF16026652, SU17159856, PK11092040, GV17207916, PN18490887; 16 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 200.000 đồng có seri: WB16400400, NQ19167310, HR20986596, OK19077707, OR183518454, RF16403240, XT21803329, IQ11135151, QM13099537, IF 19803616, JS20604660, NR18219251, CQ11282899, RN19080169, RH14244497, NL21444060; 05 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 100.000 đồng có seri: RI18621143, ED16870783, EB19108147, NM15009952, MA17085454; 02 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 50.000 đồng có seri: IF17072944, TB22760006 cần giám định là tiền thật.
* Tại Kết luận số: 1676/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Xe mô tô Wave màu sơn đỏ số khung: VTHWCH023TH031650 (bị cắt hàn); số máy VTHHH152FMH-1031650 (không bị đục xóa).
* Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Kim A và Nguyễn Văn T1 ngày 24/6/2024, thể hiện đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bảng thống kê chi tiết kèm theo.
* Qua xác minh thể hiện, Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Minh T không có tài sản, nên không tiến hành kê biên.
Tại Bản cáo trạng số: 06/CT-VKSTC ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim A mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Minh Trương .
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
* Các bị cáo Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Minh T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và không có ý kiến tranh luận.
* Bà Nguyễn Thị H có nguyện vọng được nhận lại chiếc điện thoại di động hiệu Vivo và số tiền 5.900.000 đồng đã gửi cho bị cáo Kim A trước khi bị bắt giữ.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện: Để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng Nguyễn Thị Kim A đã mua ma túy của đối tượng tên N (không xác định được nhân thân lai lịch) về phân chia nhỏ ra trực tiếp bán bán hoặc giao cho chồng Nguyễn Minh T đi bán ma túy cho các đối tượng nghiện trên địa bàn huyện T và số ma túy còn lại Kim A chia nhỏ ra để sử dụng. Khoảng 13 giờ ngày 23/6/2024, Kim A đã đưa một tép ma túy cho T bán cho Nguyễn Hoàng S1 với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày Kim A đưa cho T 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất ma túy bán cho Nguyễn Duy K với giá 500.000 đồng, trong lúc bán ma túy cho K, do không đủ tiền nên K đưa cho T số tiền 300.000 đồng để mua 01 đoạn ống hút nhựa, T đồng ý bán ma túy cho K, thì bị Công an huyện T phối hợp Công an xã T bắt quả tang lúc 16 giờ 25 phút cùng tang vật tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, riêng 01 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa chất ma túy còn lại T cất giữ trong lúc bắt quả tang bị mất không tìm được tại hiện trường. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Ngoài lần phạm tội ngày 23/6/2024, từ tháng 11/2023 đến ngày 22/6/2024 Nguyễn Thị Kim A đã 07 lần thực hiện hành vi mua ban trái phép chất ma túy, trong đó, Nguyễn Minh T đã 05 lần giúp sức bán trái phép chất ma túy cho Kim A. Nên các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó Bản cáo trạng số: 06/CT-VKSTC ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cơ thể con người, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể làm phát sinh các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất trật tự, trị an tại địa phương.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim A là người khởi xướng mua ma túy về chia nhỏ ra, rủ rê bị cáo T là người thực hành đi bán ma túy cho bị cáo. Đối với bị cáo Trương mặc D1 bị cáo là người thực hành tuy nhiên bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích và bị xử phạt hành chính một lần, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó cần xử các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T mức án ngang nhau tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Kim A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo T đã bị kết án chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo Kim A, T thành khẩn khai báo và tự thú các lần thực hiện hành vi phạm tội trước đó chưa bị phát hiện. Nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các tội phạm về ma túy và cũng để có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản để đảm bảo thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo Kim A, T.
[9] Xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện các bị cáo Kim A, T sử dụng vào mục đích phạm tội gồm: + 01 (một) xe mô tô biển số 70K4-7298, số khung: VTHWCH023TH031650; số máy: VTHHH152FMH-1031650;
+ 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax số Imei: 353889102263695 (không mở nguồn được);
+ Tiền Việt Nam 400.000 đồng;
- Truy tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.050.000 đồng bị cáo Kim A thu lợi bất chính từ việc bán ma túy;
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cuộn băng keo màu trắng; 02 (hai) cây kéo; 02 (hai) hộp quẹt gas; 05 (năm) đoạn ống hút nhựa hàn kín một đầu; 50 (năm mươi) ống hút nhựa chưa sử dụng; 03 (ba) nỏ thủy tinh; 01 (một) bình nhựa; 03 (ba) dụng cụ khò lửa; 01 (một) bình gas mini;
- Tuyên trả cho bà Nguyễn Thị H: 01 (một) điện thoại di động Vivo màu xanh số Imei 1: 867966046460295 số Imei 2: 867966046460287 (không mở được nguồn) và tiền Việt Nam 5.900.000 đồng.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus số seri: FD5W60JWJCM2 (không mở được nguồn) thu của bị cáo Trương D2 không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo T, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[11] Đối với các đối tượng Nguyễn Hoàng S1, Nguyễn Duy K, Trần Văn T2, Võ Tiến D và Nguyễn Văn T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Công văn chuyển Công an xã T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông tên N có hành vi bán ma tuý cho Nguyễn Thị Kim A, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm việc xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 23/6/2024 giữa bị cáo Kim A và Nguyễn Văn T1, do chỉ có lời khai, chưa sử dụng ma túy, không thu được chất ma túy, ngoài lời khai của Kim A và T1 không có chứng cứ chứng minh. Cũng tại phiên tòa bị cáo Kim A không thừa nhận cùng T1 sử dụng trái phép chất ma túy, nên chưa đủ cơ sở xử lý về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[12] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim A 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 24/6/2024.
1.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 23/6/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước gồm:
+ 01 (một) xe mô tô biển số 70K4-7298, số khung: VTHWCH023TH031650; số máy: VTHHH152FMH-1031650;
+ 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax số Imei: 353889102263695 (không mở nguồn được);
+ Tiền Việt Nam 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng;
- Truy tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị Kim A số tiền 2.050.000 (hai triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng;
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cuộn băng keo màu trắng; 02 (hai) cây kéo; 02 (hai) hộp quẹt gas; 05 (năm) đoạn ống hút nhựa hàn kín một đầu; 50 (năm mươi) ống hút nhựa chưa sử dụng; 03 (ba) nỏ thủy tinh; 01 (một) bình nhựa; 03 (ba) dụng cụ khò lửa; 01 (một) bình gas mini;
- Tuyên trả cho bà Nguyễn Thị H:
+ 01 (một) điện thoại di động Vivo màu xanh số Imei 1: 867966046460295 số Imei 2: 867966046460287 (không mở được nguồn);
+ Tiền Việt Nam 5.900.000 (năm triệu chín trăm nghìn) đồng.
- Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án của bị cáo Nguyễn Minh T 01(một) điện thoại di động Iphone 8 Plus số seri: FD5W60JWJCM2 (không mở được nguồn).
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 01 năm 2025).
3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trung Lợi |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 20 Nguyễn Thị Kim A - CĐP về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" Điều 251
