Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 24/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Trịnh Thanh Tùng
  2. Bà Thái Tín Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa:

Ông Trần Thanh Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Sơn Quành N; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại V, Sóc Trăng; nơi cư trú: Khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn P (s) và bà Đào Thị N1 (s); vợ: Không; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/10/2024 và chuyển sang tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Sơn Quành N: Ông Nguyễn Văn Đ – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S (có mặt)

Bị hại: Triệu Na N2; sinh năm: 1985 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số A, H, phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Triệu Na N2: Bà Lý Thị E; sinh năm: 1959 là người đại diện theo ủy quyền (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm S, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Người làm chứng: Hứa Thành T; sinh năm: 2000 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm B, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Sơn C – Công chức hưu trí thuộc Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 03 năm 2024, Sơn Quành N đi từ địa bàn thành phố Hồ Chí Minh về thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, lúc này N đi xe khách mang biển số 5IB5 - 0466 của nhà xe “ông H” khi chuẩn bị lên xe thì N gặp được chị Triệu Na N2, là người cùng quê V, cũng lên xe đi từ thành phố Hồ Chí Minh về thị xã V, tỉnh Sóc Trăng bằng xe khách mang biển số 51B5 - 0466 của nhà xe “ông H", do trước đây N có qua nhà của N2, tại khóm S, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng chơi nên cả hai có quen biết nhau, khi chuẩn bị lên xe khách thì N2 có nhờ N đem 01 cái ba lô màu xanh của N2 để gửi dưới hầm xe giúp cho N2 thì N đồng ý. Sau khi gửi hành lý xong thì N2 và N lên xe khách để đi về nhà tại thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, trên đường đi về thì N nằm giường trên còn N2 nằm giường phía dưới xe, khi nằm trên xe thì N có nghe được N2 nói chuyện điện thoại với bạn là có mua một số tài sản đem về hiện đang để bên trong cái ba lô màu xanh của N2 gửi dưới hầm xe, sau khi N2 nói chuyện điện thoại xong thì N nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của N2. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, khi xe khách chạy đến đầu lộ T, thuộc khóm S, phường V, thị xã V thì N yêu cầu được xuống xe tại đây, khi xuống xe thì N nhìn thấy phụ xe là anh Hứa Thành T, lúc này anh T hỏi N có gửi tài sản gì không thì N trả lời có, sau đó N đã kêu anh T đưa 02 cái ba lô (trong đó có 01 cái thuộc quyền sở hữu của N và 01 cái ba lô màu xanh thuộc quyền sở hữu của N2), sau khi lén lút lấy trộm tài sản của Nươl xong thì N đi bộ trên đường N, thuộc khóm S, phường V, thị xã V, lúc này mở cái ba lô màu xanh của Nươl ra xem thì phát hiện bên trong có các loại tài sản, gồm: 02 (một gói trà "LÀI MIỀN NAM"; 01 (một) chai nước hoa hiệu "MaiSon"; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A17; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme; 02 đôi bông tai vàng 18K và 01 cái mặt dây chuyền vàng 24K và một số đồ dùng cá nhân của phụ nữ. Sau đó N lấy tất cả số tài sản nêu trên rồi ném bỏ cái ba lô màu xanh của N2 rồi đem tất cả tài sản đem về nhà của N tại khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng để cất giấu. Còn Triệu Na N2, sau khi xe khách chạy về đến khu vực khóm X, phường V, thị xã V, N2 được yêu cầu xuống xe tại đây thì phát hiện bị mất trộm 01 cái ba lô màu xanh, nên đã đến Công an phường V, thị xã V trình báo vụ việc. Qua quá trình xác minh làm rõ, Công an phường V đã xác định được Sơn Quành N là người đã lấy trộm tài sản của Triệu Na N2 vào ngày 24/03/2024, nên đã tiến hành mời Sơn Quành N đến làm việc thì N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 17 tháng 05 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã V, kết luận:

  • 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam, có giá trị là 45.000 đồng.
  • 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam, có giá trị là 45.000 dong.
  • 01 (một) chai nước hoa hiệu "MaiSon" thể tích 100ML đã qua sử dụng, có giá trị là 695.000 đồng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A17, màu xanh đã qua sử dụng, có giá trị là 2.000.000 đồng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xám đã qua sử dụng, có giá trị là 1.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 4.285.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 2854/KL-KTHS ngày 29 tháng 05 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C1, kết luận:

  • 01 đôi bông tại bằng kim loại màu vàng có đính hạt trắng, tổng khối lượng bao gồm cả đá: 1,2767 gam (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 60,16%.
  • 01 đôi bông tại bằng kim loại màu vàng có đính hạt trắng, tổng khối lượng bao gồm cả đá: 1,2442 gam (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 59,27%.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 07 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã V, kết luận:

  • 01 đôi bông tại bằng kim loại màu vàng có đính hạt trắng, tổng khối lượng bao gồm cả đá: 1,2767 gam (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 60,16% tương đương 0,7680 gam, có giá trị là 1.531.800 đồng.
  • 01 đôi bông tại bằng kim loại màu vàng có đính hạt trắng, tổng khối lượng đến bao gồm cả đá: 1,2442 gam (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định có td thành phần kim loại chủ yếu là V (A). Hàm lượng Vàng: 59,27% tương đương 0,7374 gam, có giá trị là 1.467.773 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 2.999.573 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 11 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã V, kết luận: 01 mặt dây chuyền vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ, có giá trị là 8.045.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam; 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam; 01 (một) chai nước hoa hiệu "MaiSon" thể tích 100ML; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A17 màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xám đã qua sử dụng; 02 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng. Còn đối với tài sản là 01 cái mặt dây chuyền vàng 24K và 01 cái ba lô màu xanh, Cơ quan điều tra, Công an thị xã V đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm thấy, đã lập biên bản để vào hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSVC ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố Sơn Quành N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Sơn Quành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sơn Quành N. Đề nghị xử phạt bị cáo Sơn Quành N từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trả lại cho bị hại Triệu Na N2: 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam; 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam; 01 (một) chai nước hoa hiệu "MaiSon" thể tích 100ml; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A17 màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xám đã qua sử dụng; 02 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đề nghị. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị.

Tại phiên tòa, bị cáo Sơn Quành N thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự và yêu cầu lý hình sự đối với bị cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là bị hại Triệu Na N2 và người làm chứng Hứa Thành T vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai đầy đủ ở Cơ quan Điều tra. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Sơn Quành N khai nhận, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 cái ba lô màu xanh của bị hại Triệu Na N2, trong đó tài sản mà bị cáo lấy trộm gồm: 02 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM"; 01 (một) chai nước hoa hiệu "MaiSon"; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A17; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme; 02 đôi bông tai vàng 18K và 01 cái mặt dây chuyền vàng 24K. Qua giám định tài sản thì tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp được là 15.329.573 đồn. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại. Đồng thời, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở để kết luận, hành vi của bị cáo Sơn Quành N đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Tại phiên tòa, các bị cáo Sơn Quành N thừa nhận là nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét tính chất, hành vi và hậu quả của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo trong một thời gian hợp lý để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, xét về nhân thân, bị cáo không có tiền án tiền sự; sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo dân tộc Khmer, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[7] Đối với Hứa Thành T là người phụ xe trên xe khách mang biển số 51B5-0466 của nhà xe "ông H”, khi bị cáo Sơn Quành N kêu T đưa 02 cái ba lô thì T hoàn toàn không biết trong đó có 01 cái ba lô của bị hại Triệu Na N2 nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với T với vai trò đồng phạm cùng với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo Sơn Quành N có đơn xin miễn án phí do là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[10] Xét lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị. Xét thấy, hiện nay tình hình tội phạm về xâm phạm sở hữu diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Vì vậy, đòi hỏi xử lý nghiêm đối với người phạm tội, nếu xử phạt bị cáo không nghiêm thì không đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm. Do đó, lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

[9] Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố: Bị cáo Sơn Quành N (T1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Sơn Quành N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2024.

  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trả lại cho bị hại Triệu Na N2: 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam; 01 (một) gói trà "LÀI MIỀN NAM" có trọng lượng 400 gam; 01 (một) chai nước hoa hiệu "MaiSon" thể tích 100ml; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A17 màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xám đã qua sử dụng; 02 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng.
  • Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sơn Quành N.

Báo cho bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Công an thị xã Vĩnh Châu;
  • - CQTHAHS - Công an thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sơn Quành N - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger