Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 20/2025/DS-ST

Ngày: 24/02/2025

V/v: “T/c hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE- TỈNH BẾN TRE

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng
  • Bà Nguyễn Thị Bé Em
  • Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 418/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa:

*Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; (có mặt)

Thường trú: 132/2, khu phố B, phường D (nay là khu phố I, phường A), thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Cư trú: 28G ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

*Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1961; (vắng mặt)

Cư trú: 347A ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/11/2024, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Do có quen biết nên ngày 18/10/2022, bà Nguyễn Thị T có cho ông Nguyễn Văn B vay số tiền 10.000.000 đồng. Khi vay tiền, ông B có viết biên nhận nợ ngày 18/10/2022 do ông B tự lập và ký tên. Sau đó, bà T đã đưa đủ cho ông B số tiền 10.000.000 đồng ngay sau khi ông B viết biên nhận nợ. Ông B cam kết trong vòng 10 ngày kể từ ngày 18/10/2022 đến ngày 28/10/2022 thì ông B sẽ trả tiền cho bà T. Tuy nhiên, đến nay mặc dù bà T đã nhiều lần yêu cầu ông B trả tiền nhưng ông B không thực hiện, điều này đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

Do đó, nay bà T yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông B có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền 10.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày vay đến ngày xét xử. Bà T không còn yêu cầu nào khác.

Bị đơn ông Nguyễn Văn B:

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông B vắng mặt nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: căn cứ đơn khởi kiện 05/11/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn B trả tiền vay còn thiếu, việc giao dịch tiền giữa các bên xảy ra vào năm 2022, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án "tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Nguyễn Văn B có nơi cư trú tại xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.

Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông B theo đúng quy định tại các điều 175, 177, 196, 208 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông B vắng mặt. Việc ông B vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, thấy rằng:

[2.1] Tại Biên nhận nợ ngày 18/10/2022 có nội dung như sau: "Tôi tên Nguyễn Văn B có nhận của Nguyễn Thị T mười triệu đồng chẳn; 18/10/2022; Bé Nguyễn Văn B". Như vậy, việc vay tiền giữa bà T với ông B được lập thành văn bản. Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”; Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định." Đối chiếu các quy định nêu trên, xét thấy Biên nhận nợ ngày 18/10/2022 đáp ứng đủ yếu tố về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 gồm: yếu tố chủ thể, tính tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của xã hội, do đó Biên nhận nợ ngày 18/10/2022 có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, bà T đã gửi cho ông B bản sao hồ sơ khởi kiện, đồng thời Tòa án cũng đã triệu tập ông B nhiều lần để ghi nhận ý kiến của ông B đối với yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng ông B vắng mặt cũng như không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Từ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà T cho ông B vay số tiền 10.000.000 đồng là có thật. Căn cứ các điều 280, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, bà T khởi kiện yêu cầu ông B có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền vay 10.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2] Về tiền lãi: bà T yêu cầu ông B có nghĩa vụ trả tiền lãi của số tiền 10.000.000 đồng với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 18/10/2022 đến ngày xét xử. Căn cứ Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, xét thấy mức lãi suất bà T yêu cầu là có cơ sở, phù hợp theo quy định pháp luật nên được chấp nhận. Tiền lãi của số tiền 10.000.000 đồng được tính như sau: 10.000.000 đồng x 0,83%/tháng x (2 năm 4 tháng 06 ngày) = 2.536.000 đồng.

[2.3] Bà T không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét.

[3] Về án phí: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận nên ông B có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 627.000 đồng. Ông B là người cao tuổi thuộc diện được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuy nhiên ông B không có đơn đề nghị nên không được xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 280, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn B về việc "tranh chấp hợp đồng vay tài sản", cụ thể như sau:

    Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 12.536.000 (mười hai triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn) đồng, trong đó: tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.536.000 đồng.

    Kể từ khi Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 627.000 (sáu trăm hai mươi bảy nghìn) đồng.

    Bà Nguyễn Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005436 ngày 06/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

  3. Bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Bến Tre (1b);
  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - CCTHADS thành phố Bến Tre (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu hồ sơ, VP (4b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Thanh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/DS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 20/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khời kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger